
Bản giao hưởng xanh nơi Cửa Đại
Trồng rừng để trả nợ cho đất. Những vạt đất nằm trần mình dưới chân sóng - những giồng đất phù sa nơi cửa sông, cửa biển, đã có hàng vạn cánh rừng kiên cường xanh lên...

Gió sáng thốc qua những bãi bồi, nước triều lấp lánh chân rễ. Chúng tôi men theo con đường nhỏ, một bên là ao nuôi thủy sản, một bên là mảng xanh của mắm, đước nơi xã đảo Tam Hải. Người làng kể, cách đây vài năm họ bắt đầu trồng đước quanh ao để “lọc nước, giữ bờ”. Giờ thì những hàng đước đã vượt đầu người, cành lá ôm lấy xóm chài, như một tấm phên mềm trước gió bão.
Rừng giữ đất, giữ làng
Tam Hải là xã đảo nằm ở khu vực cửa biển An Hòa và Cửa Lở, nơi có ba mặt giáp biển, một mặt giáp sông Trường Giang. Vùng đất này được mệnh danh là “vương quốc” của những cánh rừng ngập mặn. Trong đó, có những cây mắm cổ thụ lên đến cả trăm tuổi bám đất giữ làng.
Mắm là “cựu binh” trong khu rừng ngập mặn ở Tam Hải. Có cây thân phải hai người ôm, tuổi đời tính bằng nhiều thập niên. Chính những cây cổ thụ ấy phát tán hạt tự nhiên, âm thầm mở rộng vành đai rừng. Vài chục năm trước, phong trào đào ao nuôi tôm từng khiến rừng bị chặt hạ. Khi nuôi tôm thất bại, bãi bồi bỏ hoang. Cái vòng đi - về ấy để người làng nhận ra một bài học đắt giá: chỉ có rừng mới trả nợ được cho đất.
Mắm, tên khoa học là Avicennia, là loài cây đến “cư ngụ” sớm nhất trên những giồng đất vừa mới được bồi đắp. Những người dân ở các vùng ngập mặn khắp dải đất Việt này nói, lịch sử cần ghi nhớ công lao của cây mắm như là nhớ ơn những người mở đất vậy.
Cây mắm già nhất có thể đến hai mươi mét. Rễ mắm phát triển nhiều dạng tùy theo chỗ đất, có lúc mọc thẳng, lúc bò ra thành chùm rậm rạp. Có khi, rễ mắm tua tủa đâm thẳng lên không, trông như một rừng chông dày đặc. Dạng rễ này gọi là rễ phổi (phế căn) nhờ đó cây mắm có thể thở được trong vùng đất thường xuyên bị ngập nước.
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường từng viết trong bút ký về Đất Mũi Cà Mau, rằng ở vùng đất này, cây mắm còn được lấy gỗ xài việc trong nhà, cũng còn dùng làm ván ép. “Điều cuối cùng này không thể quên khi nói về cây mắm: Đó là loài cây kiên cường nhất của rừng sác miền Nam, có thể đương đầu nổi với cuộc chiến tranh hóa học của giặc Mỹ. Sau những trận mưa khai quang của đế quốc Mỹ, mọi loài cây rừng khác đều bị hủy diệt, chỉ riêng rừng mắm thì rụng lá để rồi nảy mầm và xanh tươi trở lại” - nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường viết.
Có lẽ đó cũng cách những thân mắm cổ thụ ở xã đảo Tam Hải sinh tồn. Ông Lê Bá Lai, Bí thư Chi bộ thôn Long Thạnh Tây, xã Tam Hải chia sẻ, nếu không có những cánh rừng ngập mặn che chắn, chắc người dân phải rời đảo vào đất liền sinh sống. Những cánh rừng không chỉ giúp hạn chế tác động của gió bão mà còn là “ngôi nhà” cho các loài thủy sản như: cua, cá, hàu trú ngụ. Đây là nguồn lợi hải sản phong phú tạo sinh kế chính cho bà con nơi đây khai thác.
Rừng mắm với những thân cây thẳng tắp, trong nắng tịch liêu trông như một cánh rừng bạch dương. Đứng trụ giữa bùn cát và dông bão, những thân cây kiễng chân trên đất mặn - như vang âm một niềm kiêu hãnh của xứ sở.

Bản giao hưởng xanh nơi Cửa Đại
Từ Cửa Đại nhìn vào, mảng xanh rừng dừa nước Bảy Mẫu hiện ra dày rậm - nơi được xem là vùng đệm sinh học của Khu Dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm. Không chỉ chắn sóng, giữ phù sa, rừng dừa và thảm cỏ biển bên cạnh còn là “vườn ươm” cho trứng cá, con giống theo dòng triều. Nhờ vậy, nguồn lợi ven bờ được nuôi dưỡng thành một chu trình kín đáo nhưng bền bỉ từ trong bờ ra ngoài biển.
Ông Trần Tấn Dũng - Chủ tịch UBND phường Hội An Đông cho biết, sau nhiều năm nỗ lực, diện tích của rừng dừa Bảy Mẫu hiện nay có hơn 100ha. Phạm vi quy hoạch rừng dừa đã ổn định, đảm bảo giữ vai trò vùng đệm quan trọng cho Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm.
Và từ những cánh rừng dừa nước, người dân Cẩm Thanh xây dựng thương hiệu vùng đất của mình. Điểm đến du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng Cẩm Thanh được định danh cùng sự hồi sinh ngoạn mục của những thân dừa bén rễ trong bùn đất. Từ vùng đầm phá vốn dĩ là cái nôi cách mạng xứ Quảng với những chiến công để giữ đất giữ làng, từ chỗ dân chỉ biết bám vào nguồn lợi thủy hải sản của vùng ngập mặn, bây giờ, rừng dừa Bảy Mẫu trở thành những “hình mẫu” được các làng du lịch cộng đồng khắp nơi học tập.
Dưới tán rừng dừa, tiếng mái chèo thúng rộn ràng chở khách len vào kênh rạch. Du lịch ở đây không chỉ là “đi thuyền xem dừa” mà là câu chuyện cộng đồng tự tổ chức: dọn rác, giữ an toàn, điều tiết lưu lượng vào cao điểm. Hàng nghìn lao động địa phương có việc làm, dòng khách giãn bớt khỏi trung tâm phố cổ.
Và khi nhìn thấy những lợi ích từ các cánh rừng ngập mặn, rừng lại có thêm lý do để rộng mở. Ông Từ Văn Khánh - Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng cho biết, toàn thành phố hiện có tổng diện tích quy hoạch phòng hộ rừng ngập mặn là 304,52ha. Trong đó, những cánh rừng bần, mắm và dừa nước có diện tích 254,52ha. Đặc biệt, vai trò của rừng ngập mặn trong những năm gần đây được đặt ở vị trí quan trọng.
Theo ông, trong các chương trình hành động của quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu ở vùng ven biển đều chú trọng đến việc bảo vệ và trồng mới diện tích rừng ngập mặn, qua đó cho thấy vai trò quan trọng của loại rừng này. Ông Khánh chia sẻ thêm, từ năm 2014 đến nay, thành phố Đà Nẵng đã tổ chức trồng mới và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, trồng bổ sung với tổng diện tích khoảng 153ha rừng ngập mặn từ nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương, các chương trình dự án nước ngoài.
Những cộng đồng trồng rừng ven biển được nối dài với từng công việc cụ thể, từ trồng, khoanh nuôi, phục hồi. Cùng với số diện tích rừng đã trồng và phục hồi, dự kiến từ dự án “phát triển các loại cây vùng ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2026 - 2030”, Đà Nẵng sẽ trồng thêm 50ha rừng ngập mặn và phát triển 100ha rừng vùng cát - một cam kết “xanh” được lượng hóa bằng diện tích, thời gian, nguồn vốn.
Khi rừng nghe theo nhịp thủy triều
Nhưng rừng ngập mặn vốn là loài “khó tính,” dễ bị tổn thương trước những đổi thay vi mô của lưu vực.
Số liệu kiểm lâm cho thấy vài năm gần đây có một số diện tích rừng bị chết do nguyên nhân bất khả kháng. Tính đến năm 2024, tổng diện tích rừng ngập mặn bị chết khoảng 42,921ha với các loài cây: mắm, đước, bần, sú. Trong đó: rừng tự nhiên bị chết khoảng 16,921ha (tỷ lệ chết hơn 60%), diện tích rừng trồng mới và rừng trồng bổ sung từ năm 2015 đến nay khoảng 26ha (tỷ lệ chết khoảng 98%).
Kết luận của Viện Tài nguyên và Môi trường - Đại học Huế cho rằng, nguyên nhân cây chết do có sự thay đổi đồng bộ chất lượng nước hoặc do sự gia tăng bất thường lượng chất hòa tan trong nước, có thể do tác động vật lý trong thời gian dài và liên tục làm thay đổi quá trình hoạt động của hệ thống rễ khí sinh. Những cây ngập triều sâu và kéo dài liên tục bị tác động lên hệ thống rễ khí sinh làm cho ngừng quá trình trao đổi chất trong cây dẫn đến cây bị chết.
Cũng từ năm 2024 đến nay, đã bắt đầu có những thử nghiệm “trồng rừng dưới biển” từ các vùng đất ngập mặn xứ Trung Bộ. Rút kinh nghiệm, các dự án mới “nghe theo” thủy triều và thổ nhưỡng: khảo sát từng bãi bồi, dựng vườn ươm tại chỗ để giống quen nước, rồi mới hạ thủy; chọn đước đôi, mắm trắng ở những cung bờ phù hợp, trồng theo dải để chịu sóng.
Cùng lúc, có nơi thay đổi cả tư duy xây dựng hạ tầng. Đó là lồng ghép việc trồng rừng ngập mặn như một giải pháp để chủ động ứng phó những ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu. Tại khu neo đậu cảng cá An Hòa (xã Núi Thành) trước đây dự kiến kè cứng hai bờ dẫn vào âu thuyền, nay điều chỉnh sang trồng rừng ngập mặn làm “lá chắn mềm”.
Những cánh rừng ven biển của thành phố trở thành những tuyến đê mềm ngăn dòng xói lở, cũng là tấm áo giáp tự nhiên vừa che chở sinh kế hôm nay, vừa bảo đảm an toàn khí hậu cho mai sau. Những tuyến đê cứ lớn lên và xanh thêm từng ngày, như cách mà vạn dặm rừng xanh nơi đất mặn kiêu hãnh sinh tồn qua bao cuộc biến thiên. Nghe như trong từng nắm bùn động đậy dưới chân ngọn triều vừa dâng, là “tiếng thở khẽ” của tán rừng vỗ theo chân sóng...