Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong y tế đang mở ra hướng đi mới trong công tác khám, chữa bệnh, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, tối ưu hóa quy trình chuyên môn, định hình mô hình điều trị theo hướng cá thể hóa, đồng thời giảm áp lực cho hệ thống y tế. Tại Đà Nẵng, một số cơ sở y tế công lập đã triển khai và ghi nhận kết quả tích cực.
.jpg)
.jpg)
.jpg)

Phó Giám đốc phụ trách Bệnh viện 199 (Bộ Công an) Trần Quang Pháp cho biết, để sẵn sàng cho việc ứng dụng AI trong dự báo bệnh tật, tối ưu quy trình lâm sàng và quản trị, đơn vị đã từng bước xây dựng nền tảng iTITAN. Đây là hệ sinh thái dữ liệu y tế thông minh với nền tảng quản trị tổng thể nhằm hướng tới mô hình bệnh viện số toàn diện.
Nền tảng này đang được phát triển theo kiến trúc lakehouse (mô hình kết hợp giữa khả năng phân tích của kho dữ liệu truyền thống và tính linh hoạt của hồ dữ liệu lớn), cho phép kết hợp ưu điểm của kho dữ liệu truyền thống (data warehouse) và hồ dữ liệu lớn (data lake). Đồng thời, tích hợp đồng bộ dữ liệu từ nhiều hệ thống (bệnh án, hình ảnh, tài chính, nhân sự, khảo sát hài lòng…) trên một nền tảng thống nhất.

Tại bệnh viện, từ năm 2023, AI được tích hợp vào hệ thống PACS (lưu trữ và truyền tải hình ảnh y khoa), hỗ trợ bác sĩ trong việc phân tích hình ảnh chẩn đoán như X-quang, CT, MRI. Đây là một trong những đơn vị y tế công tại miền Trung tiên phong ứng dụng công nghệ này trong chuyên môn.
“Các thuật toán AI được tích hợp trực tiếp vào hệ thống PACS giúp hỗ trợ bác sĩ trong việc phát hiện tổn thương sớm trên phim, đặc biệt là các bất thường phổi và tổn thương tuyến vú. Giai đoạn thử nghiệm lâm sàng (từ năm 2023 đến đầu năm 2024) cho thấy thuật toán AI giúp phát hiện đúng bất thường phổi trong 92,6% trường hợp bất thường phổi trên X-quang ngực và 94,1% tổn thương nghi ngờ trên phim nhũ ảnh”, Phó Giám đốc phụ trách Bệnh viện 199 Trần Quang Pháp cho biết.

Ngoài tăng khả năng phát hiện sớm, AI cũng giúp rút ngắn thời gian chẩn đoán. “Trước đây, mỗi phim X-quang mất khoảng 5-6 phút để đọc. Với AI, chỉ cần 1-2 phút là có thể định hướng tổn thương. AI hỗ trợ đối chiếu với các mẫu bệnh lý điển hình, từ đó nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán”, bác sĩ Vũ Văn Hưởng (Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện 199) chia sẻ.
Công nghệ này cũng giúp giảm áp lực cho đội ngũ chuyên môn, nhất là trong những ca bệnh phức tạp. Các vùng tổn thương như đám mờ, viêm phổi đông đặc… được AI đánh dấu rõ ràng, hỗ trợ bác sĩ phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường và tối ưu quyết định điều trị.

Với người bệnh, điều này không chỉ giảm thời gian chờ đợi mà còn tiết kiệm nhờ cắt giảm chi phí in phim. “Chỉ cần quét mã QR trên phiếu trả kết quả, bệnh nhân có thể truy cập hình ảnh chẩn đoán ngay trên thiết bị thông minh”, bác sĩ Hưởng nói.
Song song đó, bệnh viện triển khai kiosk thông minh - thiết bị hỗ trợ người bệnh thăm khám tự động, tích hợp các chức năng đo sinh hiệu cơ bản (chiều cao, cân nặng, huyết áp, nhịp tim), khai báo y tế và đánh giá chỉ số BMI.
Đây là một bước đi nhằm tăng tính chủ động cho người bệnh, giảm thời gian chờ tại khu tiếp nhận ban đầu, đồng thời cải thiện hiệu quả thu thập dữ liệu lâm sàng đầu vào.
“Chúng tôi xem AI là hạt nhân trong quá trình chuyển đổi sang mô hình bệnh viện thông minh. Việc ứng dụng công nghệ cần gắn chặt với chuyên môn, lấy hiệu quả chăm sóc bệnh nhân làm trọng tâm”, ông Pháp khẳng định.

Từ các ứng dụng AI trong chẩn đoán hình ảnh đến nền tảng dữ liệu tổng thể, Bệnh viện 199 đang từng bước hình thành một hệ sinh thái y tế thông minh có chiều sâu, đặt nền móng cho việc nâng cao chất lượng điều trị, cá thể hóa chăm sóc sức khỏe và hướng đến chuẩn bệnh viện số trong tương lai gần.
Để vận hành hiệu quả các nền tảng công nghệ, Bệnh viện 199 chú trọng đào tạo đội ngũ bác sĩ, kỹ thuật viên có khả năng đọc hiểu dữ liệu, phối hợp chặt chẽ giữa CNTT và chuyên môn. Đây là nền tảng giúp quá trình chuyển đổi số diễn ra bền vững, hiệu quả và thực chất, không phụ thuộc vào thiết bị hay nhà cung cấp.

Nếu như Bệnh viện 199 tập trung ứng dụng AI vào khâu chẩn đoán - quản trị dữ liệu, thì Bệnh viện C lại nổi bật trong điều trị phục hồi chức năng thông minh. Cả hai đều minh chứng cho tiềm năng của AI trong nâng cao chất lượng chăm sóc và tối ưu hóa vận hành trong ngành y.
Tại đây, hệ thống robot tập dáng đi MRG-P100 tích hợp cảm biến 3D và công nghệ thực tế ảo đang hỗ trợ điều trị cho các bệnh nhân tổn thương thần kinh trung ương như tai biến mạch máu não, chấn thương sọ não...
“Robot tập đi cho phép người bệnh thực hiện hơn 1.000 bước đi trong 30 phút, điều mà phương pháp trị liệu truyền thống khó đạt được. Đây là yếu tố quan trọng giúp kích hoạt tính mềm dẻo thần kinh - chìa khóa của phục hồi vận động sau tổn thương. Bên cạnh đó, cơ chế kết hợp giữa robot khung xương ngoài và robot tác động cuối cho phép tạo chuyển động lặp lại chính xác, cường độ cao, an toàn và tiết kiệm sức cho nhân viên y tế”, Trưởng khoa Phục hồi chức năng Bùi Văn Hội cho biết.

Nghiên cứu ban đầu trên 12 bệnh nhân đột quỵ thể nhồi máu não cho thấy sau 3 tuần can thiệp (5 buổi/tuần; mỗi buổi 60 phút, trong đó 30 phút với robot), các chỉ số chức năng đều cải thiện rõ rệt. Đặc biệt, điểm số thang Berg Balance Scale đánh giá khả năng giữ thăng bằng tăng đáng kể.
“Trước đây, một bài tập được áp dụng cho nhiều bệnh nhân. Giờ đây, AI giúp cá nhân hóa từng phút tập luyện, từ mức trợ lực, số lần lặp lại đến độ khó, dựa trên dữ liệu vận động thực tế của người bệnh”, kỹ thuật viên Nguyễn Thị Trà Vy (Khoa Phục hồi chức năng) chia sẻ.
Sau mỗi lượt tập, dữ liệu mới của bệnh nhân được nhập vào hệ thống. Chatbot tích hợp AI phân tích, đưa ra đề xuất điều chỉnh phác đồ. “Cứ 5 ngày, chúng tôi đánh giá lại, cập nhật dữ liệu và chatbot lại đưa ra kế hoạch mới. Việc điều trị không còn cứng nhắc mà linh hoạt theo tiến trình phục hồi”, chị Vy nói.
.jpg)
Ông Huỳnh Đức Trung (61 tuổi), một bệnh nhân bị liệt gần như hoàn toàn hai chân sau tai nạn ngã và phẫu thuật cột sống, là ví dụ điển hình. “Lúc đầu tôi chỉ tập được 20 phút mỗi ngày, giờ là 40 phút. Tôi cảm nhận rõ mình đi vững hơn từng ngày. Với đà này, tôi tin mình sẽ sớm đi lại được bình thường”, ông hân hoan.
Tương tự, bà Nguyễn Thị Hào (74 tuổi, phường Hòa Minh) nhập viện trong tình trạng liệt nửa người phải. “Lúc mới vào, tôi không đứng nổi, phải có người dìu hai bên. Giờ tôi đã có thể chống gậy đi lại”, bà xúc động nói.
Bên cạnh robot tập dáng đi, Bệnh viện C còn vận hành hệ thống thực tế ảo cảm biến VRRS EVO, giúp người bệnh không chỉ phục hồi vận động mà còn rèn luyện khả năng tư duy, ghi nhớ và phối hợp. Hệ thống tập thăng bằng Gamma tích hợp các trò chơi tương tác cho phép bác sĩ đánh giá chi tiết tình trạng rối loạn thăng bằng ở từng người bệnh. Dữ liệu từ mỗi buổi tập được tổng hợp, phân tích, phục vụ việc điều chỉnh và tối ưu hóa kế hoạch điều trị.

Song song đó, bệnh viện đang thử nghiệm mô hình phục hồi chức năng từ xa (tele-rehab). Người bệnh được hướng dẫn tập luyện qua hình thức Zoom hoặc Video call các bài tập tại nhà dưới sự giám sát từ xa của bác sĩ và kỹ thuật viên thông qua kết nối dữ liệu.
“AI sẽ hỗ trợ theo dõi tiến độ tập luyện, đánh giá độ chính xác và mức tiến bộ thông qua các nghiệm pháp đã được huấn luyện. Nếu phát hiện bất thường hoặc không đạt theo tiến trình, AI sẽ cảnh báo để bác sĩ, kỹ thuật viên can thiệp hoặc thay đổi chế độ tập luyện phù hợp kịp thời. Nhờ đó, việc phục hồi không bị gián đoạn sau khi bệnh nhân xuất viện, hạn chế nguy cơ tái phát”, bác sĩ Hội nói.
Phó Giám đốc Bệnh viện C Nguyễn Tấn Dũng cho biết, việc ứng dụng công nghệ trong phục hồi chức năng tại bệnh viện được triển khai bài bản, gắn với chủ trương của Trung ương và Bộ Y tế về chuyển đổi số y tế. Trong đó, con người là yếu tố then chốt.
.jpg)
“Chúng tôi không chỉ đầu tư thiết bị mà còn chú trọng đào tạo đội ngũ. Kỹ thuật viên được học chuyên sâu về đánh giá lâm sàng, phân tích dữ liệu AI, vận hành thiết bị và giao tiếp hiệu quả với người bệnh”, bác sĩ Dũng thông tin.
Hiện toàn bộ các hệ thống công nghệ cao như VRRS EVO, robot MRG-P100, hệ thống Gamma… đều do đội ngũ kỹ thuật viên của khoa trực tiếp triển khai và vận hành, không phụ thuộc vào hãng sản xuất hoặc chuyên gia nước ngoài.
Với những kết quả tích cực tại Bệnh viện 199 và Bệnh viện C, có thể thấy ngành y tế Đà Nẵng đang chuyển mình mạnh mẽ theo hướng hiện đại, nơi người bệnh là trung tâm và công nghệ là động lực đột phá, từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng bệnh viện thông minh - bệnh viện số trong tương lai gần.

