Du lịch

Dưới dải mây trắng, cuộc hẹn với Đảo Nam

DƯƠNG NỮ HOÀNG ANH • 03/11/2026 16:12

ĐNO - Mười ba năm, cuộc hẹn còn bỏ ngỏ với Đảo Nam mới thành hiện thực. Dưới những dải mây trắng vắt ngang núi tuyết, chúng tôi đi qua những cung đường băng hà, những thung lũng lộng gió và cả những phút mỏi mệt muốn dừng lại, để hiểu rằng đôi khi điều đẹp nhất chỉ hiện ra khi mình bước tiếp.

441-202611031440391(1).jpg
Trekking giữa thảm cỏ vàng và núi tuyết trên tuyến Hooker Valley.

Năm 2013, tôi từng đến Wellington. Khoảng thời gian ngắn ngủi năm ấy vừa đủ để làm quen với một thành phố lộng gió, nhưng chưa đủ để tôi đi xa hơn. Đảo Nam khi đó chỉ là những hồ nước, dòng sông băng và dãy núi tôi nhìn thấy qua ảnh. Tôi rời New Zealand mà chưa một lần đặt chân đến đó, mang theo một cuộc hẹn dở dang không biết bao giờ mới thực hiện được.

Trước chuyến đi lần này, có người bảo tôi rằng chưa đến Đảo Nam thì coi như chưa biết hết New Zealand. Đảo Bắc cuốn hút bởi vẻ đẹp địa nhiệt và những lớp trầm tích văn hóa Māori; còn Đảo Nam lại quyến rũ bằng núi tuyết, đồng cỏ và những cung đường đi qua cảnh quan do băng hà tạo nên.

441-202611031440392.jpg
Một cung đường uốn quanh những ngọn đồi phủ cỏ vàng trên hành trình khám phá Đảo Nam.

Nhân đợt nghỉ giữa kỳ tại Wellington, tôi cùng anh chị em trong lớp quyết định dành năm ngày khám phá Đảo Nam. Linh, chàng trai trẻ nhất đoàn, được tin tưởng giao nhiệm vụ thiết kế hành trình với một bài toán không dễ: thời gian ngắn, chi phí tiết kiệm nhưng vẫn đến được nhiều nơi đẹp.

Sau nhiều lần lên phương án và lấy ý kiến cả đoàn, chúng tôi chọn khởi hành bằng phà Interislander vượt eo biển Cook đến Picton, rồi đón tàu ngắm cảnh Coastal Pacific tới Christchurch, thay vì bay thẳng. Từ Christchurch, cả đoàn thuê xe dịch vụ có người hướng dẫn đi cùng. Chi phí cho hai chặng phà và tàu nhỉnh hơn vé máy bay, nhưng bù lại, chúng tôi được nhìn ngắm vùng đất giữa nơi đi và nơi đến. Để cân đối khoản chênh lệch ấy, chúng tôi không chọn tour trọn gói mà chủ động mua vé, tìm chỗ ở phù hợp và cùng nhau chuẩn bị một số bữa ăn thay vì ăn ngoài. Nhờ sự tính toán ấy, chi phí chuyến đi giảm đáng kể.

441-202611031440393.jpg
Du khách xếp hàng gọi bánh tại Fairlie Bakehouse, điểm dừng chân nổi tiếng ở thị trấn Fairlie.

Tiếng vọng ở hồ Tasman

Thời tiết trước ngày khởi hành được dự báo trời có thể mưa lạnh. Người hướng dẫn đoàn cũng bảo, càng đi về phía nam càng lạnh. Nhưng may mắn thay, ngoài chút mưa nhẹ ngày đầu, những ngày sau hầu như nắng ráo và ấm hơn.

Hành trình của chúng tôi men theo những lòng chảo và thung lũng nằm giữa dãy Southern Alps. Ở đây, núi như một người khổng lồ bao bọc lấy con người và cảnh vật. Núi cũng rút ngắn khoảng trời chiều một cách bất ngờ: mặt trời vừa chói chang trên đồng cỏ cừu, chỉ ít phút sau đã khuất sau sống núi, kéo tấm rèm chiều xuống thung lũng trong khi nền trời phía xa vẫn còn hắt sáng. Vẻ hoang sơ, hùng vĩ của Southern Alps cũng từng xuất hiện trong hai bộ ba phim Chúa tể những chiếc nhẫn (The Lord of the Rings) và Người Hobbit (The Hobbit); riêng khu vực Treble Cone ở Wānaka được sử dụng làm một phần bối cảnh cho Dãy núi Mù Sương (Misty Mountains).

441-202611031440394.jpg
Lưu lại khoảnh khắc bên hồ Tekapo, phía xa là Nhà thờ cổ kính Church of the Good Shepherd và dãy núi còn phủ tuyết.

Thi thoảng, Linh chỉ những đám mây trắng vắt ngang sườn núi và kể về truyền thuyết hình thành vùng đất này. Trong một câu chuyện của người Māori, Đảo Bắc là con cá Te Ika-a-Māui được thần Māui câu lên từ đại dương; còn Đảo Nam mà chúng tôi đang đi qua là chiếc thuyền Te Waka a Māui.

Linh kể, Aotearoa - tên gọi New Zealand trong tiếng Māori - được ghép từ ao là mây, tea là trắng và roa là dài, thường được hiểu là “vùng đất của dải mây trắng dài”. Theo truyền thuyết, khi nhìn thấy những dải mây trắng kéo dài phía trên vùng đất mới, Kuramārōtini - vợ của nhà hàng hải Kupe - đã thốt lên: “Aotearoa!” Tên gọi ấy về sau được sử dụng rộng rãi để chỉ toàn bộ New Zealand.

441-202611031440395.jpg
Cây cầu treo trên tuyến Hooker Valley.

Từ Christchurch, xe đưa chúng tôi qua Rakaia Gorge rồi dừng lại ở thị trấn nhỏ Fairlie trước khi đến hồ Tekapo. Điểm dừng được mọi người mong chờ là Fairlie Bakehouse, một tiệm bánh pie nổi tiếng của vùng Mackenzie. Pie phổ biến trong đời sống New Zealand đến mức nước này có cả một cuộc thi cấp quốc gia được tổ chức hằng năm để chọn ra những chiếc bánh ngon nhất.

Chúng tôi phải xếp hàng khá lâu mới đến lượt gọi bánh. Riêng nhóm năm người chúng tôi chọn năm loại pie bán chạy nhất của quán rồi chia nhỏ để cùng nếm thử, trong đó có Bacon and Salmon Pie, Beef Moussaka và Pork Belly and Apple Sauce Pie. Tôi thích nhất chiếc bánh nhân cá hồi và thịt xông khói với lớp vỏ nóng giòn bao lấy phần nhân cá hồi béo mềm, điểm thêm vị mặn thơm của thịt xông khói. Mỗi người chỉ mua một chiếc nhưng nhờ chia nhau, cả nhóm được thưởng thức nhiều loại bánh. Có lẽ cái ngon còn đến từ nhiều giờ ngồi xe, từ sự háo hức chờ Tekapo và niềm vui được cùng nhau khám phá. Với riêng tôi, đó là chiếc pie ngon nhất đã ăn ở New Zealand.

441-202611031440396.jpg
Hồ Hooker nằm dưới chân Aoraki/Mount Cook, điểm cuối của tuyến trekking Hooker Valley.

Đến khoảng 16 giờ, chúng tôi tới hồ Tekapo. Vừa bước xuống xe, ai cũng ngỡ ngàng trước mặt hồ xanh ngọc trải rộng dưới những dãy núi còn phủ tuyết. Sắc xanh ấy được tạo nên bởi những hạt đá rất nhỏ do sông băng nghiền mịn, theo dòng nước đổ vào hồ và tán xạ ánh sáng. Tekapo cũng nằm trong Khu bảo tồn bầu trời tối quốc tế Aoraki Mackenzie, nơi ánh sáng nhân tạo được kiểm soát để gìn giữ bầu trời đêm. Bên bờ hồ, ngôi nhà thờ đá nhỏ bé Church of the Good Shepherd được khánh thành năm 1935, đứng khiêm nhường giữa bụi cây và đá cuội, tựa như đã thuộc về cảnh vật từ lâu.

441-202611031440397.jpg
Những khối băng lớn nhỏ trôi trên mặt hồ Tasman.

Rời Tekapo qua hồ Pukaki, chúng tôi tiến vào thung lũng Hooker thuộc Vườn quốc gia Aoraki/Mount Cook. Cung đường trekking đưa chúng tôi bước qua những bụi cỏ tussock vàng nâu nghiêng mình trong gió núi. Lần lượt băng qua ba cây cầu treo chao nghiêng trên dòng nước xám đục, cái mệt bắt đầu đè nặng lên từng bước chân. Trong đoàn, có người phải dừng lại sau cây cầu thứ hai. Đôi chân tôi cũng bắt đầu nặng trịch. Ngay lúc tưởng như không còn sức để đi, một người bạn chìa sang mẩu sô-cô-la nhỏ. Vị ngọt tan chậm giữa cái lạnh của thung lũng, tiếp thêm cho tôi chút năng lượng để bước tiếp.

441-202611031440398.jpg
Từ boong tàu, du khách ngắm những vách núi dựng đứng bao quanh Milford Sound trong một ngày nắng trong.

Sau hai giờ trekking, tôi và một người bạn là hai người đầu tiên trong đoàn đến hồ Hooker ở cuối tuyến. Bao nhiêu nhọc nhằn dường như lùi lại khi mặt hồ xanh lam hiện ra giữa những sườn núi. Phía sau hồ, Aoraki phủ tuyết đỉnh núi cao nhất New Zealand với độ cao 3.724m - hiện lên ở khoảng cách tưởng như rất gần. Ngồi nghỉ bên hồ, người bạn đưa cho tôi một quả táo nhỏ. Miếng táo giòn, mát lạnh; không hiểu vì đói, vì khát hay vì khung cảnh trước mắt mà tôi thấy ngon lạ thường. Trong niềm vui vì đã theo được đến cuối con đường, tôi hào hứng chụp ngay những bức hình đầu tiên. Những bức ảnh ấy lưu giữ nhiều hơn một phong cảnh: trong đó còn có cảm giác sung sướng của một lần không bỏ cuộc.

Trở lại khu vực đậu xe, tôi cảm thấy hai bắp chân căng mỏi, còn mọi người trong đoàn cũng đều thấm mệt. Chúng tôi ghé một quán ăn trong khu vực Aoraki/Mount Cook để ăn trưa, lấy lại sức rồi tiếp tục đến hồ Tasman. Một số người chọn ở lại trên xe nghỉ ngơi; bản thân tôi cũng thoáng nghĩ đến chuyện dừng lại. Nhưng rồi một sự thôi thúc mơ hồ lại kéo tôi đi tiếp.

441-202611031440399.jpg
Church of the Good Shepherd bên hồ Tekapo, công trình bằng đá được khánh thành năm 1935.

Và chính quyết định “đi thêm một đoạn” ấy đã đưa chúng tôi đến một khoảnh khắc khó quên. Sau khoảng ba mươi phút đi giữa những thảm cỏ nâu vàng dưới nắng, khi gần tới hồ Tasman, một tiếng động trầm đục bất ngờ vọng ra từ phía mặt nước, dội vào vách núi rồi lan đi trong không gian.

Trước mắt chúng tôi, hồ Tasman ngả màu xanh ngọc lam, nằm giữa những dãy núi xanh thẫm. Những khối băng trắng pha xanh lặng lẽ trôi trên mặt hồ rộng lớn. Núi, nước và băng như hòa vào một gam màu vừa lạnh, vừa trong trẻo. Tôi đứng nhìn hồi lâu, liên tục trầm trồ trước khung cảnh ấy và cảm thấy mọi lời miêu tả đều khó diễn đạt hết những gì đang hiện ra trước mắt.

Tôi được biết hồ Tasman bắt đầu hình thành từ năm 1974 và lớn dần khi sông băng Haupapa/Tasman lùi lại. Những khối băng trôi đẹp đến ngỡ ngàng, nhưng sự mở rộng ấy cũng cho thấy khí hậu ấm lên đang làm biến đổi cảnh quan băng hà nơi đây.

441-2026110314403910.jpg
Tác giả bên hồ Hooker sau khoảng hai giờ đi bộ trên tuyến Hooker Valley.

Một số người trong đoàn đoán tiếng động vừa nghe có thể phát ra từ một khối băng nứt vỡ đâu đó quanh hồ, nhưng không ai nhìn thấy chính xác khoảnh khắc ấy. Dẫu vậy, âm thanh vang lên giữa không gian bao la khiến hồ Tasman trong mắt tôi không còn là một bức tranh đứng yên. Dưới vẻ tĩnh lặng kia, băng vẫn dịch chuyển và tan ra theo cách con người khó nhận biết bằng mắt thường.

Những điều thiên nhiên trao lại

Chặng đường tiếp theo đưa chúng tôi qua Wānaka, Te Anau rồi đến Milford Sound/Piopiotahi. Xe đi qua thung lũng Eglinton và đường hầm Homer trước khi chúng tôi lên tàu du ngoạn RealNZ ngắm vịnh hẹp do băng hà tạo nên. Milford mở ra với những vách núi dựng đứng, có nơi cao hơn nghìn mét tính từ mặt nước. Người ta kể rằng vào ngày mưa, hàng trăm dòng thác tạm thời có thể xuất hiện trên các vách núi. Ngày chúng tôi đến trời nắng trong, đường đi thuận lợi và tầm nhìn rộng nên số thác nhìn thấy không nhiều. Có chút tiếc nuối, nhưng rồi chúng tôi hiểu rằng Milford khó trao trọn cả hai vẻ đẹp trong cùng một ngày.

441-2026110314403911.jpg
Một khoảng lặng bên hồ Tekapo.

Đồng hành cùng chúng tôi trong suốt chuyến đi là chị Tuyền - một người mẹ có con đang học tại New Zealand và đã nhiều lần dẫn các đoàn khám phá Đảo Nam. Chị kể nhiều về cách người dân nơi đây yêu thiên nhiên, không coi núi rừng hay sông hồ là tài sản của riêng mình. Tại những điểm tham quan thiên nhiên mà đoàn ghé thăm, chúng tôi không phải mua vé vào cửa, dù vẫn trả tiền cho phương tiện, chỗ ở và các dịch vụ trải nghiệm.

441-2026110314403912.jpg
Cả đoàn dừng chân bên hồ Wakatipu trên hành trình khám phá Đảo Nam.

Trong những chặng trekking, chúng tôi mang theo nước uống, một ít bánh kẹo và trái cây để dùng khi cần. Sau đó, mọi người gom chai lọ, vỏ hộp và bao bì vào túi; nếu quanh đó không có thùng rác, chúng tôi mang theo đến tận khu vực đậu xe. Giữa những con đường sạch sẽ gần như không có dấu vết của rác, tôi hiểu rằng vẻ đẹp ấy không chỉ do thiên nhiên ban tặng mà còn được gìn giữ bằng sự trân trọng và ý thức tự giác của mỗi người đặt chân đến.

Mười ba năm cho một cuộc hẹn. Năm ngày ngắn ngủi chưa đủ để đi hết hay hiểu hết Đảo Nam, nhưng đủ để lại trong tôi cảm giác bước qua ba cây cầu treo, vị ngọt mát của quả táo bên hồ Hooker, tiếng động trầm đục vọng ra từ hồ Tasman và những dải mây trắng thong dong vắt ngang rặng núi tuyết.

Rời Đảo Nam khi mặt trời một lần nữa khuất nhanh sau sống núi, tôi biết cuộc hẹn mười ba năm đã khép lại. Tôi vẫn muốn trở lại, vào một ngày có thể đi chậm hơn và ở lại lâu hơn.

(0) Bình luận
x
Nổi bật
Dưới dải mây trắng, cuộc hẹn với Đảo Nam
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO