Sáng 19/1, giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long giữ mức ổn định. Năm 2025, xuất khẩu gạo đạt 8,06 triệu tấn nhưng giá trị giảm 27,6% so với cùng kỳ năm trước.
Ghi nhận tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long sáng ngày 19/1, giá lúa gạo duy trì đà đi ngang, không có biến động mới so với các phiên trước đó. Thị trường giao dịch tương đối ổn định ở cả phân khúc lúa tươi và gạo thành phẩm.
Tại thị trường trọng điểm An Giang, giá các loại lúa tươi vẫn duy trì ở mức ổn định. Cụ thể, các giống lúa chất lượng cao như OM 18 và Đài Thơm 8 tiếp tục được thương lái thu mua với mức giá cao nhất trong nhóm lúa phổ thông.
| Giống lúa | Giá thu mua (VND/kg) |
|---|---|
| OM 18 | 6.300 – 6.500 |
| Đài Thơm 8 | 6.300 – 6.500 |
| OM 5451 | 5.600 – 5.800 |
| IR 50404 | 5.500 – 5.600 |
| OM 34 | 5.400 – 5.500 |
| OM 4218 | 6.000 – 6.200 |

Đối với phân khúc gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu, mức giá cũng không ghi nhận sự thay đổi. Gạo OM 18 và OM 5451 đang được giao dịch quanh mức 8.500 – 8.600 VND/kg. Riêng gạo Đài Thơm 8 có mức giá cao hơn, dao động từ 8.650 – 8.750 VND/kg. Các dòng gạo nguyên liệu khác như IR 504, Sóc thơm hay OM 380 duy trì khoảng giá từ 7.300 đến 7.800 VND/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo thành phẩm ổn định ở mức cao. Đáng chú ý, gạo Nàng Nhen giữ giá 28.000 VND/kg, gạo Hương Lài đạt 22.000 VND/kg và gạo thơm Thái hạt dài dao động từ 20.000 đến 22.000 VND/kg. Các loại gạo phổ biến khác như Jasmine hay gạo trắng thông dụng vẫn giữ nguyên mặt bằng giá cũ.
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam hiện đang duy trì trạng thái ổn định. Cụ thể, gạo thơm 5% tấm được chào bán ở mức 420 – 440 USD/tấn; gạo Jasmine đạt 446 – 450 USD/tấn và gạo 100% tấm ở mức 319 – 323 USD/tấn.
Nhìn lại dữ liệu cả năm 2025, ngành gạo Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức về giá trị. Dù khối lượng xuất khẩu đạt mức ấn tượng hơn 8,06 triệu tấn, nhưng so với năm 2024, con số này đã giảm 10,8% về lượng. Đáng chú ý, kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh tới 27,6%, chỉ đạt 4,103 tỷ USD.
Nguyên nhân chính dẫn đến sự sụt giảm kim ngạch là do giá xuất khẩu bình quân năm 2025 chỉ đạt khoảng 509 USD/tấn. Mức giá này thấp hơn đáng kể so với mức 627,2 USD/tấn của năm 2024, tương đương mỗi tấn gạo xuất khẩu đã giảm khoảng 118 USD.