Trong cái nhìn còn bị thiên kiến trước đây, nhất là từ ngoài nhìn vào, Việt Nam là nước có nhiều vấn đề chưa được tốt đẹp về phụ nữ, về nam nữ bình quyền. Nhưng thực chất thì không phải như vậy.

Cột mốc của mỹ thuật hiện đại Việt Nam thường được đồng nghĩa với năm ra đời Trường Mỹ thuật Đông Dương (1924/1925), thì ngay từ rất sớm, hình tượng và chủ đề nữ đã rất được xem trọng trong sáng tạo mỹ thuật. Hình tượng, chủ đề người nữ trong 8 bức tranh được công nhận là Bảo vật quốc gia và 10 tranh đắt giá nhất trên thị trường công khai là một minh chứng.
Từ đếm người trong Bảo vật quốc gia
Trong 8 bức tranh được công nhận là Bảo vật quốc gia, có 3 bức không vẽ người nữ, đó là Gióng (sơn mài, 1990) của Nguyễn Tư Nghiêm, vẽ Thánh Gióng; Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc (sơn mài, 1980) của Dương Bích Liên; và Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ (sơn mài, 1963) của Nguyễn Sáng, vẽ 8 nam quân nhân.
Có 3 bức hoàn toàn vẽ người nữ, đó là Vườn Xuân Trung Nam Bắc (sơn mài, vẽ từ năm 1969 đến 1989) của Nguyễn Gia Trí, vẽ 20 thiếu nữ, tượng trưng cho 20 mùa Xuân của 3 miền. Bức Em Thúy (sơn dầu, 1943) của Trần Văn Cẩn, vẽ 1 bé gái. Bức bình phong hai mặt (sơn mài, 1939) của Nguyễn Gia Trí, một mặt có tên là Dọc mùng, vẽ cảnh vật, một mặt có tên Thiếu nữ trong vườn thì vẽ 7 thiếu nữ 3 miền.
Có 2 bức vẽ vừa nam vừa nữ, đó là Thanh niên thành đồng (sơn mài, 1978) của Nguyễn Sáng vẽ 19 người tranh đấu, trong đó có 2 phụ nữ; Hai thiếu nữ và em bé (1944, sơn dầu) của Tô Ngọc Vân, vẽ 2 thiếu nữ và 1 bé trai.
Nếu đếm nhân vật, thì tổng cộng có 60 người, trong đó có 1 vị thánh, 1 lãnh tụ, 1 bé gái, 1 bé trai, 31 thiếu nữ và 25 thanh niên. Nếu xét về chủ thể, thì có 4 bức phụ nữ là nhân vật chính, 1 bức phụ nữ tham gia vào tập thể vai chính.
Còn với 10 bức tranh Việt Nam đắt giá nhất trên thị trường công khai, thì chỉ có 2 bức phụ nữ không thành nhân vật chính, đó là Phong cảnh Phnom Penh (sơn mài 8 tấm, 1943) của Lê Quốc Lộc, ở vị trí thứ 7 về giá bán, vẽ 1 thiếu nữ, 1 chàng trai và 8 thầy tu; và Uyên ương hý liên (lụa, 1930) của Lê Phổ, vẽ đôi chim uyên ương trong hồ sen, ở vị trứ thứ 8.

Top 5 bức tranh đắt giá nhất đều có phụ nữ là nhân vật chính, đó là Chân dung cô Phượng (sơn dầu, 1930) của Mai Trung Thứ, vẽ 1 thiếu nữ, từng bán 3,1 triệu USD, là cao giá nhất cho đến thời điểm hiện tại.
Các bức tiếp theo là Gia đình trong vườn (lụa, 1938) của Lê Phổ, vẽ 4 thiếu nữ và 1 bé trai, bán 2,37 triệu USD; Dáng hình trong vườn (sơn dầu) của Lê Phổ, vẽ 3 thiếu nữ, 2 bé trai và 1 bé gái, 2,3 triệu USD; Ba người phụ nữ (sơn dầu, 1934) của Nguyễn Gia Trí, vẽ 3 phụ nữ, 2,07 triệu USD; Người phụ nữ đội nón lá bên sông (sơn dầu, 1937) của Mai Trung Thứ, vẽ 2 phụ nữ, hơn 1,5 triệu USD.
Các bức còn lại là Khỏa thân (sơn dầu, 1931) của Lê Phổ, vẽ 1 thiếu nữ, 1,4 triệu USD; Những cô thợ may (lụa, 1930) của Nguyễn Phan Chánh, vẽ 4 thiếu nữ, 1,39 triệu USD; Trà và đồng điệu (sơn dầu) của Lê Phổ, vẽ 10 thiếu nữ, 1,36 triệu USD.
10 bức tranh Việt Nam đắt giá nhất vẽ tổng cộng 42 nhân vật, trong đó có 8 thầy tu, 1 chàng trai, 3 bé trai, 1 bé gái, còn lại là 29 thiếu nữ.
Đến vị trí người nữ trong tâm thế
Nhìn lại 18 bức tranh này, thậm chí có thể mở rộng thành 30 bức tranh (8 Bảo vật quốc gia + 22 tranh đắt giá nhất), đều do các nam họa sĩ thực hiện. Nam ưu tiên vẽ nữ có lẽ cũng là điều dễ hiểu thôi, chưa nói từ bối cảnh 1930 - 1945, khi chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa ấn tượng của Pháp ảnh hưởng sâu sắc đến văn thơ, nhạc họa của Việt Nam, việc ưu tiên chủ đề nữ càng dễ hiểu hơn.

Trong 8 tranh Bảo vật quốc gia, những bức không vẽ người nữ hoặc vẽ chủ đạo người nam, đều là tranh đặt hàng của bảo tàng. Những bức còn lại là vẽ theo cảm hứng riêng, nên đều ưu tiên vẽ người nữ.
Với người Đông phương, 4 chủ đề có tính tiểu tự sự thường thấy trong tranh là “chim, hoa, cá, gái”. Với mỹ thuật hiện đại Việt Nam thời kỳ đầu, “gái” là chủ đề ưu trội, nên xuất hiện ở hầu khắp các tác phẩm tiêu biểu.
Hơn nữa, trong bối cảnh thuộc địa, rồi chiến tranh, “người trai chiến đấu” hoặc tâm sự đàn ông nói chung đều ưu tiên nghĩ về vợ con - những người nữ ở hậu phương. Những gì khốc liệt, gian lao thì thể hiện ở tiền tuyến, những bình yên, tươi đẹp thì ở hậu phương. Trong tranh cũng vậy, với bối cảnh chủ đạo là hậu phương, các nhân vật nữ đã được vẽ với sự sáng sủa, tươi vui và bình yên đến lạ.
Nếu nhìn ở khía cạnh trân trọng này, thì rõ ràng địa vị người nữ trong tranh Việt Nam - xuyên xuốt cho đến ngày nay - ít khi nào bị lép vế trước người nam, chứ đừng nói bị “trọng nam khinh nữ”, hoặc thiếu sự bình quyền.
Về giới tính của họa sĩ, trong suốt lịch sử mỹ thuật hiện đại, Việt Nam còn hơi ít các họa sĩ nữ, dù xã hội không nghiêm cấm, cản trở. Bằng chứng là, ngay từ trước khi Trường Mỹ thuật Đông Dương ra đời, Việt Nam đã có các nữ họa sĩ như Marie-Antoinette Boullard-Deve (1890 - 1970), Alix Aymé (1894 - 1989)… đến lưu trú, sáng tác; rồi sớm xuất hiện những nữ họa sĩ tự học hoặc từ cung đình như Maria Mộng Hoa (15/8/1913 - 10/7/1986).
Lê Thị Lựu (1911 - 1988) không chỉ đỗ đầu khóa 3 năm 1927, mà còn tốt nghiệp thủ khoa của Trường Mỹ thuật Đông Dương, nằm trong bộ tứ danh họa Việt tại Pháp là Phổ - Thứ - Lựu - Đàm. Suốt chiều dài lịch sử còn nhiều tên tuổi khác như Nguyễn Thị Kim (1917 - 2011), Trương Thị Thịnh (1928), Trịnh Kim Vinh (1932 - 2018), Mộng Bích (1933), Bé Ký (1938 - 2021), Lê Thị Kim Bạch (1938), Nguyễn Thị Hợp (1943), Phan Gia Hương (1951 - 2022)…