Hát sắc bùa xứ Quảng từng là mỹ tục đầu xuân, đưa lời chúc từ ngõ vào nhà. Khi loại hình này gần như mai một trong đời sống cộng đồng, việc bảo tồn cần bắt đầu từ kiểm kê hiện trạng, ghi lại bài bản, lời ca và không gian diễn xướng vốn có.

Trong đời sống làng quê xứ Quảng trước đây, những ngày đầu năm, đội hát sắc bùa đi qua từng xóm. Người giữ trống, người cầm phách, người gõ sinh tiền. Trước cổng một nhà dân, người xướng cất lời mở ngõ. Gia chủ có khi chưa mở cửa ngay, để đội hát đứng ngoài thêm một lát như cách thử tài ứng đối. Câu hát mở ra cuộc gặp giữa người đi hát và người trong nhà.
Sắc bùa thường được gọi là hát chúc Tết. Cách gọi đó đúng, nhưng chưa đủ. Trong thực hành dân gian, hát sắc bùa là hình thức diễn xướng tổng hợp, có hát, nhạc cụ, nghi lễ, lời chúc, ứng tác và giao tiếp cộng đồng. Đội hát đến trước ngõ, hát mở ngõ, vào sân, hát mở cửa hoặc khai môn, chúc xuân, chúc gia chủ, dâng hương, dán bùa, rồi hát lời từ tạ để đi ra.
Mở ngõ là lời xin bước vào nhà. Khai môn là lời xin mở cửa. Dâng hương đưa câu hát đến bàn thờ tổ tiên. Dán bùa gửi theo ước vọng trấn giữ điều dữ, cầu bình an cho gia chủ trong năm mới.
Ở xứ Quảng, sắc bùa không chỉ có vẻ huyền thuật. Trong tiếng trống, tiếng phách, tiếng sinh tiền còn có lời chúc mùa màng, lời mừng tuổi, lời mừng nhà mới, lời chúc người buôn bán đắt hàng, người già thêm tuổi thọ. Sắc bùa đứng giữa nghi lễ và đời sống, giữa sự trang nghiêm trước bàn thờ với tiếng cười của xóm làng.
Cái hay của hát sắc bùa không chỉ nằm ở việc đội hát thuộc nhiều bài. Cái khó là hát sao cho đúng nhà, đúng người, đúng cảnh. Gia đình làm nông cần lời chúc khác nhà buôn bán. Nhà vừa dựng cửa dựng nhà cần lời mừng khác nhà có người lớn tuổi. Đội sắc bùa không đi qua nhà dân như đi qua những địa chỉ vô danh. Họ biết mình đang đứng trước ngõ nhà ai, gia đình đó làm nghề gì, đầu năm nên chúc điều gì.
Ở đó, sắc bùa giữ trí nhớ của làng. Người hát không chỉ giữ lời ca. Họ giữ cách gọi tên đời sống. Một câu hát có thể nhắc đến lúa khoai, tằm tang, chợ búa, nhà cửa, tuổi già, sức khỏe, con cháu. Từ lời chúc chung của năm mới, sắc bùa đi vào từng phận người, từng căn nhà.
Lời ca sắc bùa xứ Quảng cũng mang rõ dấu vết địa phương. Trong đó có khẩu khí Quảng, có từ cổ, có Hán Việt nghi lễ, có cách nói nôm na của người quê. Nếu chỉ ghi lại bằng một bản chép đã được sửa theo tiếng phổ thông, câu hát dễ mất đi giọng của nó.
Trong không gian xứ Quảng, hát sắc bùa từng được ghi nhận ở nhiều vùng thuộc Quảng Nam trước đây như Duy Xuyên, Đại Lộc, Hội An và một số địa bàn lân cận.
Tư liệu về hát sắc bùa Lệ Bắc, vùng Duy Xuyên cũ, cho thấy đây từng là một trong những địa bàn còn lưu dấu hát sắc bùa khá rõ ở xứ Quảng. Các bài viết giai đoạn 2018-2020 nhắc đến nghệ nhân, đội hát và hoạt động truyền dạy tại địa phương, như một nỗ lực khơi lại mỹ tục đầu xuân.
Từ những ghi nhận đó, việc kiểm kê hiện trạng hôm nay càng cần được đặt ra, nhất là với đội hát, bài bản, nghệ nhân và môi trường thực hành tại chỗ.
Ở Đại Lộc, các nghiên cứu về diễn xướng sắc bùa cho thấy phần nghi lễ khá đậm. Một lần đi sắc bùa có thể gắn với cây nêu, trấn bùa, dán bùa, đi quanh sân vườn chúc đất đai, cây trái, vật nuôi, rồi vào nhà dâng hương, chúc gia chủ. Sau phần nghi lễ là sinh hoạt văn nghệ với hò, lý, vè, hát đố, hát xạo.
Ở Hội An, sắc bùa được đưa vào các chương trình đón xuân, rước sắc bùa, hoạt động văn hóa phục vụ cộng đồng và du khách. Cách làm này giúp sắc bùa tiếp tục có mặt trong đời sống đô thị.
Nhưng khi bước lên sân khấu hoặc đi vào chương trình lễ hội, không gian cũ bị rút gọn. Sân khấu có thể giữ trang phục, đội hình, tiếng trống, tiếng phách, lời chúc. Sân khấu khó giữ trọn cảm giác đội hát đứng trước ngõ nhà, gia chủ ở bên trong, bàn thờ ở phía sau, lời chúc được cất lên cho chính căn nhà đó.
Nói hát sắc bùa xứ Quảng gần như mai một không có nghĩa là loại hình này đã biến mất hoàn toàn. Nó vẫn còn dấu vết trong tư liệu, trong ký ức nghệ nhân, trong một số chương trình văn hóa, trong các hoạt động Tết ở vài địa phương.
Nhưng một diễn xướng dân gian không mất đi bằng một mốc thời gian rõ ràng. Nó rời khỏi đời sống từng chút một, từ người nhớ bài, người biết xướng, người biết gõ đúng cách, gia chủ có còn mở cửa đón đội hát, những ngõ nhà có còn đủ không gian cho một lần đi sắc bùa đầu năm.
Phần quan trọng nhất của sắc bùa không nằm trọn trong văn bản. Một bài hát có thể chép lại. Một bộ trang phục có thể may lại. Một chiếc trống có thể mua lại. Nhưng cách người xướng xử lý khi gia chủ chưa mở cổng, cách đội hát chuyển từ lời chúc chung sang lời chúc riêng, cách người trong nhà đáp lại lời chúc… tất cả cần đời sống thật để tiếp tục.
Với sắc bùa, truyền dạy không chỉ là dạy thuộc lời. Truyền dạy còn là dạy cách đi, cách đứng, cách mở lời, cách quan sát gia chủ, cách ứng đối, cách giữ vẻ trang trọng mà vẫn vui. Một khóa học ngắn ngày có thể giúp người trẻ biết vài bài. Nhưng để trở thành người giữ nghề, họ cần được bước vào những lần đi hát thật, trước những căn nhà thật.
Muốn bảo tồn hát sắc bùa xứ Quảng, việc đầu tiên không nên là dựng thêm tiết mục biểu diễn. Cần kiểm kê lại hiện trạng: Địa bàn nào còn đội sắc bùa, đội nào sinh hoạt đều, đội nào chỉ phục dựng theo chương trình, nghệ nhân nào còn hát được, bài bản nào còn nhớ đầy đủ, lời hát có được chép lại không, nhạc cụ và nghi thức còn được thực hành trong nhà dân hay chỉ còn trong bản dựng sân khấu.
Những câu hỏi đó cần được trả lời bằng điền dã. Một hồ sơ kiểm kê đúng nghĩa phải ghi nhận địa bàn, nghệ nhân, đội hát, trình tự nghi lễ, lời ca, nhạc cụ, dị bản, hình ảnh, âm thanh, video và tình trạng thực hành.
Số hóa sắc bùa không phải là đưa vài đoạn video lên mạng. Số hóa đúng nghĩa phải giữ được hoàn cảnh diễn xướng. Cần ghi hình trọn vẹn một lần đi sắc bùa, từ lúc đội hát đến trước ngõ, hát mở ngõ, vào sân, dâng hương, chúc gia chủ, dán bùa, rồi từ tạ.
Cần ghi âm riêng các âm thanh: tiếng trống, phách, sinh tiền, lời xướng, lời đáp, tiếng gia chủ, tiếng người xem. Cần phiên âm lời hát theo giọng Quảng, giữ từ địa phương, từ cổ, cách nói dân gian, kèm chú giải để người trẻ hiểu.
Cũng cần lập hồ sơ nghệ nhân và đội hát. Hồ sơ phải ghi rõ vai trò trong đội hát, bài bản còn nhớ, nhạc cụ biết dùng, khả năng xướng - đáp, người truyền dạy, địa bàn từng đi hát, dị bản đang nắm giữ, hoàn cảnh biểu diễn hiện nay.
Kho dữ liệu sắc bùa nên có phần công khai cho trường học, bảo tàng, nhà văn hóa, báo chí, du lịch cộng đồng; đồng thời có phần lưu trữ chuyên sâu cho nghiên cứu và phần cần giữ theo sự đồng thuận của nghệ nhân, cộng đồng.
Bảo tồn sắc bùa cũng không nên chỉ đặt trên sân khấu. Có thể tổ chức những lần diễn xướng mẫu trong làng, tại nhà văn hóa, trường học, bảo tàng, nhưng cần giữ tinh thần đi từ ngõ vào nhà, giữ sự tham gia của gia chủ, người già, trẻ em, người trong xóm. Giữ sắc bùa là giữ ký ức về cách người xứ Quảng từng bước đến nhà nhau, mở đầu năm mới bằng tiếng trống, lời ca và một lời lành.