Thời gian qua, nhiều hợp tác xã trên địa bàn thành phố chú trọng liên kết mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao doanh thu và tạo thêm việc làm cho lao động địa phương.

Sau 5 năm triển khai Nghị quyết số 17/2019/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Quảng Nam cũ, nhiều chuỗi liên kết giữa nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp đã được hình thành và phát huy hiệu quả. Đến nay, thành phố Đà Nẵng đã hỗ trợ 98 dự án liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản được cấp có thẩm quyền phê duyệt với sự tham gia của 97 hợp tác xã, 77 doanh nghiệp và 19.432 hộ dân. Tổng nguồn vốn đầu tư đạt hơn 381,5 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ hơn 65,9 tỷ đồng.
Tại xã Đại Lộc, các hợp tác xã đã chủ động kết nối với doanh nghiệp để tổ chức sản xuất lúa giống theo chuỗi khép kín. Phát huy vai trò hạt nhân, các hợp tác xã chủ động quy hoạch vùng sản xuất tập trung quy mô lớn; trực tiếp ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm; cung ứng đồng bộ hạt giống, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời hướng dẫn, giám sát chặt chẽ quy trình kỹ thuật trong suốt vụ sản xuất. Nhờ đó, phương thức sản xuất lúa giống từng bước chuyển từ nhỏ lẻ, tự phát sang sản xuất có kế hoạch, có tổ chức và được kiểm soát chặt chẽ về chất lượng.
“Giá thu mua lúa giống luôn cao hơn lúa thương phẩm từ 15 - 25%; năng suất ổn định ở mức 65 - 70 tạ/ha. Chi phí đầu vào giảm đáng kể nhờ hình thức mua tập trung thông qua hợp tác xã, giúp lợi nhuận của nông dân tăng thêm khoảng 10 - 15 triệu đồng/ha/vụ”, ông Lê Đỗ Tuấn Khương, Chủ tịch UBND xã Đại Lộc cho biết.
Đặc biệt, sự thành công trong liên kết sản xuất là việc xây dựng liên kết chuỗi sản xuất lúa giống trên địa bàn thành phố. Theo thống kê của Liên minh Hợp tác xã thành phố, có 110 hợp tác xã chuyên sản xuất lúa và lúa giống, chiếm khoảng 24% tổng số hợp tác xã nông nghiệp. Diện tích sản xuất lúa giống đạt hơn 5.000ha, sản lượng khoảng 25.700 tấn.
Các chuỗi liên kết giữa hợp tác xã và doanh nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt so với sản xuất lúa thương phẩm thông thường, sản xuất lúa giống giúp tăng thu nhập từ 25 - 30%; riêng sản xuất giống lúa lai F1 có giá trị kinh tế cao hơn nhiều lần. Chi phí sản xuất giảm, năng suất và chất lượng sản phẩm được nâng lên, đồng thời góp phần giảm phát thải, bảo vệ môi trường nông nghiệp.
Ông Nguyễn Xuân Vũ, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã thành phố, cho biết: “Việc liên kết theo chuỗi giúp người dân yên tâm sản xuất nhờ có hợp đồng liên kết và đầu ra tương đối ổn định, hạn chế tình trạng “được mùa mất giá”, không còn bị ép giá khi thu hoạch. Đây là nền tảng quan trọng để người dân mạnh dạn đầu tư, từng bước chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp. Ngoài hiệu quả kinh tế, các chuỗi liên kết còn tạo nhiều giá trị xã hội như tạo việc làm ổn định cho lao động địa phương, cải thiện đời sống người dân, nâng cao vai trò tự quản của cộng đồng và góp phần giảm ô nhiễm môi trường”.
Nhận diện cơ hội và thách thức trong giai đoạn mới, các hợp tác xã trên địa bàn thành phố đang nỗ lực để duy trì hiệu quả liên kết sản xuất nhằm mở rộng quy mô hoạt động. Hợp tác xã Nông nghiệp Đại Thắng (xã Phú Thuận) xác định tiếp tục nâng cao năng lực quản trị theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả và thích ứng với cơ chế thị trường. Đơn vị chú trọng nâng cao năng lực điều hành của đội ngũ cán bộ, đồng thời, tăng cường đào tạo kiến thức về quản trị kinh doanh, quản lý tài chính, xây dựng phương án sản xuất, kỹ năng liên kết thị trường và ứng dụng công nghệ số.
Ngoài ra, tăng cường kết nối với doanh nghiệp, cơ quan chuyên môn và các đơn vị khoa học - kỹ thuật nhằm tiếp cận các tiến bộ công nghệ mới, mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao giá trị sản phẩm lúa giống.
“Trong lĩnh vực chuyển đổi số, Hợp tác xã Nông nghiệp Đại Thắng đang nghiên cứu, ứng dụng các phần mềm quản lý nhằm theo dõi diện tích liên kết, quản lý lịch thời vụ, quá trình sinh trưởng của cây lúa... Thông qua các thiết bị thông minh, hợp tác xã và người dân có thể cập nhật nhanh thông tin dự báo thời tiết, cảnh báo sâu bệnh để chủ động chăm sóc cây trồng và phòng trừ dịch hại. Đồng thời, từng bước triển khai truy xuất nguồn gốc và kết nối tiêu thụ sản phẩm”, ông Hoàng Trung Hùng, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Đại Thắng cho biết.
Còn với Hợp tác xã Nông nghiệp Ái Nghĩa (xã Đại Lộc), việc xác định tổ chức sản xuất, vận động và giám sát xã viên tuân thủ quy trình canh tác theo yêu cầu, tiêu chuẩn của doanh nghiệp là yếu tố quyết định thành công của mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị.
Theo ông Trương Cảm, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Ái Nghĩa, hoạt động sản xuất, kinh doanh được thực hiện theo hướng công khai, minh bạch, tạo niềm tin đối với người sản xuất.
Hợp tác xã đẩy mạnh năng lực quản trị và điều hành để đáp ứng tình hình thực tiễn. Đồng thời lấy hợp đồng liên kết làm căn cứ để kiểm soát tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm theo yêu cầu của doanh nghiệp. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - kỹ thuật và các quy trình sản xuất tiên tiến nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng nông sản.
Theo đại diện Công ty Cổ phần Tập đoàn ThaiBinh Seed, liên kết sản xuất chỉ phát huy hiệu quả khi được xây dựng trên cơ sở hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân. Thực tiễn cho thấy, mô hình liên kết không chỉ bảo đảm đầu ra ổn định cho sản phẩm mà còn góp phần hình thành vùng nguyên liệu tập trung, đồng nhất về chất lượng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Đây cũng là điều kiện để doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên liệu, mở rộng sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh.
Để các chuỗi liên kết phát triển bền vững, doanh nghiệp này kiến nghị tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất; đầu tư hạ tầng phục vụ vùng nguyên liệu và tạo điều kiện tốt hơn nữa để hợp tác xã tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi. Đồng thời tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ quản trị cho HTX; chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật và thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong sản xuất…
Vừa qua, Nghị quyết số 17/2026/NQ-HĐND ngày 29/5/2026 của HĐND thành phố Đà Nẵng quy định chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2026 - 2030, tiếp tục dành nhiều cơ chế hỗ trợ nhằm khuyến khích hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Chính sách được thực hiện theo phương thức hỗ trợ sau đầu tư và được hỗ trợ trên nhiều nội dung.
Theo đó, đối với hỗ trợ chi phí tư vấn xây dựng liên kết, chủ trì liên kết được hỗ trợ 100% chi phí tư vấn xây dựng liên kết theo quy định hiện hành và được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhưng tối đa không quá 300 triệu đồng/dự án hoặc kế hoạch liên kết.
Đối với đào tạo, tập huấn và nâng cao năng lực quản lý chuỗi liên kết, chủ trì liên kết được hỗ trợ chi phí đào tạo nghề, tập huấn kỹ thuật sản xuất; nâng cao năng lực quản lý, quản lý hợp đồng liên kết, quản lý chuỗi và phát triển thị trường cho các bên tham gia liên kết. Mức hỗ trợ theo quy định hiện hành, được cấp có thẩm quyền phê duyệt và tối đa không quá 200 triệu đồng/dự án hoặc kế hoạch liên kết.
Đối với hỗ trợ giống và vật tư phục vụ chuỗi liên kết sản xuất, nghị quyết quy định hỗ trợ giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đối với lĩnh vực trồng trọt; hỗ trợ con giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, mua và bảo quản vắc xin đối với chăn nuôi; hỗ trợ giống, thức ăn, hóa chất cải tạo ao nuôi, xử lý nước thải đối với nuôi trồng thủy sản, động vật lưỡng cư và nhóm bò sát; hỗ trợ meo giống, nguyên vật liệu đối với sản xuất nấm.
Thời gian hỗ trợ tối đa 3 vụ hoặc 3 chu kỳ sản xuất, khai thác sản phẩm thông qua các dịch vụ tập trung của hợp tác xã hoặc chủ trì liên kết. Mức hỗ trợ được xác định căn cứ quy mô thực tế của dự án hoặc kế hoạch liên kết, gồm diện tích, số lượng cây trồng, vật nuôi và định mức kỹ thuật do cơ quan có thẩm quyền ban hành, được cấp có thẩm quyền phê duyệt; tối đa không quá 1 tỷ đồng/dự án hoặc kế hoạch liên kết trong lĩnh vực chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và không quá 500 triệu đồng/dự án hoặc kế hoạch liên kết đối với các lĩnh vực còn lại.
Ngoài ra, dự án liên kết còn được ngân sách thành phố hỗ trợ đầu tư máy móc, trang thiết bị, kho lạnh bảo quản sản phẩm... theo quy định tại Điều 8 của nghị quyết. Đối với hoạt động chuyển giao, ứng dụng khoa học - kỹ thuật mới, áp dụng quy trình kỹ thuật và quản lý chất lượng đồng bộ theo chuỗi, mức hỗ trợ tối đa bằng 40% chi phí.
Để khuyến khích tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, nghị quyết quy định hỗ trợ một lần đối với mỗi dự án hoặc kế hoạch liên kết, với mức hỗ trợ bằng 5% tổng giá trị thanh lý hợp đồng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Chính sách chỉ áp dụng đối với hợp đồng tiêu thụ lần đầu và mức hỗ trợ tối đa không quá 500 triệu đồng/dự án hoặc kế hoạch liên kết, nhằm tạo thêm nguồn lực để chủ trì liên kết tiếp tục triển khai các nội dung của dự án hoặc kế hoạch đã được phê duyệt.