Việc xây dựng các mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị đã giải quyết nhiều thách thức trong phát triển kinh tế ở vùng cao và dần trở thành những mô hình điểm cần nhân rộng. Người dân nơi đây không còn canh tác đơn lẻ mà từng bước chuyển sang sản xuất bài bản, bền vững với thị trường tiêu thụ ổn định.

Cách làm từ cơ sở
Gần ba năm nay, anh Ating Bơi (thôn A Duông, xã Đông Giang) vẫn đều đặn bắt đầu ngày mới bằng việc chăm sóc đàn hươu của mình. Đây là kết quả của mô hình chăn nuôi hươu lấy nhung mà anh là một trong những hộ đầu tiên mạnh dạn tham gia, sau khi được tiếp cận chương trình tập huấn do huyện Đông Giang (cũ) phối hợp với Hợp tác xã Đầu tư và phát triển nhung hươu Hương Sơn (Hà Tĩnh) triển khai.
“Tôi được hỗ trợ 5 con giống ban đầu, gồm 3 con đực và 2 con cái. Hợp tác xã lo luôn con giống, tập huấn kỹ thuật và bao tiêu đầu ra. Sau 2 mùa nhung hươu, tôi thu được hơn 5kg nhung, bán được hơn 10 triệu đồng. So với cây keo, thu nhập từ mô hình này ổn định và ít rủi ro hơn”, anh Bơi nói.

Theo ông Nguyễn Thanh Tân, Phó Chủ tịch UBND xã Đông Giang, địa phương hiện triển khai nhiều mô hình liên kết chuỗi giá trị trong nông nghiệp, tập trung vào ba nhóm chính là nuôi hươu lấy nhung, trồng quế Trà My và trồng ba kích dưới tán rừng.
Đến nay, mô hình nuôi hươu thu hút 25 hộ tham gia với hơn 150 con. Trong khi đó, diện tích quế đạt hơn 200ha và ba kích khoảng 20ha, tất cả đều có sự hỗ trợ của các đơn vị liên kết trong và ngoài địa phương.
“Các đơn vị này không chỉ cung cấp đầu vào mà còn trực tiếp tập huấn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ cho người dân. Quan trọng hơn, họ cam kết thu mua sản phẩm sau thu hoạch, giúp bà con yên tâm sản xuất, tránh tình trạng được mùa mất giá hay bị thương lái ép giá”, ông Tân cho biết .

Vai trò cầu nối của chính quyền cơ sở được phát huy rõ nét trong các chuỗi liên kết. UBND xã Đông Giang đã lập danh sách các hộ đăng ký, phối hợp tổ chức tập huấn và giám sát chặt chẽ quy trình triển khai để bảo đảm các mô hình vận hành đúng kỹ thuật, đạt hiệu quả. Nhờ cách làm này, số hộ tham gia liên kết ngày càng tăng, đặc biệt trong lực lượng thanh niên và phụ nữ.
Ông Tân cho rằng bài toán khó nhất trong phát triển kinh tế vùng cao chính là đầu ra sản phẩm và kỹ năng sản xuất hạn chế của người dân. Do đó, khi địa phương làm cầu nối và doanh nghiệp cam kết đồng hành, liên kết chuỗi giá trị sẽ là hướng đi bền vững, tạo sinh kế ổn định, từng bước xóa bỏ tư duy sản xuất manh mún nhỏ lẻ.
Phát huy hiệu quả chính sách
Liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị đang trở thành định hướng chung trong phát triển nông nghiệp, nhất là ở các xã miền núi tại thành phố Đà Nẵng.

Các địa phương vùng cao đã tận dụng hiệu quả nguồn lực từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi để phát triển sản xuất theo chuỗi.
Tiêu biểu, Dự án 3 “Phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững, phát huy tiềm năng, thế mạnh các vùng miền để sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị” đã giúp các địa phương miền núi khai thác lợi thế địa phương, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp, góp phần giảm nghèo bền vững.
Khi triển khai Dự án 3, chính quyền hỗ trợ người dân theo nhóm hộ: các hộ được cấp cây, con giống và giao cho một hộ làm đầu mối. Đại diện nhóm tổ chức sản xuất, các hộ khác cùng tham gia.
Cách làm “trao cần câu” này giúp người dân sử dụng vốn hỗ trợ hiệu quả, có thu nhập ổn định, từng bước hình thành các chuỗi sản xuất hàng hóa tập trung. Mô hình liên kết nhóm hộ đã nâng cao ý thức và trách nhiệm của người dân trong hợp tác sản xuất, đồng thời tạo tiền đề mở rộng quy mô.
Ông Trần Văn Mẫn, Chủ tịch UBND xã Nam Trà My cho rằng, cần xây dựng vùng nguyên liệu lớn và liên kết với doanh nghiệp để chế biến sâu các sản phẩm, qua đó hình thành thương hiệu và nâng cao giá trị.

Ông Mẫn nói: “Từ việc xây dựng một vùng nguyên liệu rộng lớn, rồi liên kết mở rộng thị trường tiêu thụ, liên kết với các doanh nghiệp đầu tư để chế biến sâu các sản phẩm dược liệu…, như thế giá trị hàng hóa, giá trị các sản phẩm dược liệu mới cao”.
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi Trường, địa bàn có 3 liên hiệp HTX, 625 HTX, 3.191 tổ hợp tác. Kinh tế tập thể đóng vai trò chủ lực trong việc tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, thúc đẩy liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm ở vùng nông thôn, miền núi.
Đáng chú ý, thực hiện Nghị định số 98 (ngày 5/7/2018) của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, toàn thành phố có 90 dự án/kế hoạch liên kết sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị được cấp thẩm quyền phê duyệt, với tổng kinh phí thực hiện gần 340 tỷ đồng. Trong đó có 92 HTX và 77 doanh nghiệp tham gia làm chủ trì liên kết, với 19.089 hộ dân tham gia. Các dự án tập trung ở lĩnh vực trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi.
Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, Nghị định số 98 của Chính phủ đã khuyến khích, thu hút được doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nhất là xây dựng được vùng nguyên liệu ổn định ở các khu vực nông thôn và miền núi.
Đồng thời nâng cao thu nhập cho các bên tham gia liên kết, trong đó nông dân tham gia liên kết được bao tiêu sản phẩm theo hợp đồng liên kết. Đây là cơ sở quan trọng để triển khai Chương trình mỗi xã một sản phẩm, góp phần xây dựng thành công Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.