Văn hóa - Văn nghệ

Khi thời gian hóa thành “di sản”…

THUẬN TRIỀU 06/07/2025 09:00

Bên trong Bảo tàng Đà Nẵng, xưa là Tòa Đốc lý tuổi đời 125 năm, có không gian dành riêng để giới thiệu lịch sử đô thị Đà Nẵng với những mốc thời gian tiêu biểu. Ngẫm lại, chính những “cột mốc” thời gian này cũng hóa thành tầng vỉa di sản của ký ức…

bai-1.jpg
"Cột mốc" thời gian 1306 khởi đầu diễn trình lịch sử đô thị Đà Nẵng... (ẢNH: TH.TRIỀU)

Dựng “cột mốc” thời gian

Con số “1306” cỡ lớn, kèm hình ảnh mộc bản triều Nguyễn in bên dưới, khởi đầu cho dãy cột mốc thời gian trên diễn trình lịch sử đô thị Đà Nẵng, bên trong Bảo tàng Đà Nẵng.

Thêm vài dòng thông tin ngắn gọn về con số 1306: “Năm vua Chiêm Thành cắt châu Ô và châu Lý làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân. Mộc bản triều Nguyễn khắc dòng này: Tháng 6 năm 1306, nhà Trần gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm Thành là Chế Mân. Chế Mân đem dâng châu Ô và châu Lý”.

Quả thật, lịch sử đô thị Đà Nẵng không thể tách rời hành trình Nam tiến của dân tộc. Các nhà nghiên cứu có lẽ đã phải cân nhắc, chọn lựa rất kỹ để có được những sự kiện tiếp sau. Năm 1650, tức hơn 300 năm, mới có sự kiện được chọn để ghi dấu địa danh “Cuahan” xuất hiện trên bản đồ Việt Nam do giáo sĩ Alexandre de Rhodes vẽ. “Cuahan”, là cửa Hàn, hay sông Hàn.

Cũng thấy có những con số gợi mở về lịch sử tách - nhập của đô thị Đà Nẵng, kéo dài từ 7 thập kỷ trước. 1954, Đà Nẵng mở rộng địa giới. 1962, Đà Nẵng mở rộng địa giới lần thứ 2.

Ảnh chụp 2 sắc lệnh, một của quốc trưởng Bảo Đại hồi tháng 2-1954 và một của tổng thống chính quyền cũ Ngô Đình Diệm hồi tháng 7-1962, được in bên dưới các con số 1954, 1962. Khép lại dãy số từ 1306 là gợi ý về bầu trời: 1965. Khi ấy, sân bay Đà Nẵng được mở rộng.

bai-2.jpg
"Cột mốc" 1965 khép lại dãy số kéo dài từ năm 1306. (ẢNH: TH.TRIỀU)

Nói “khép lại” là bởi, diễn trình lịch sử kể từ sau ngày đất nước thống nhất được bảo tàng tách riêng, đặt sát nhau, như ngụ ý về quãng thời gian ngắn hơn cùng những đổi thay nhanh chóng.

1975, có 3 quận của Đà Nẵng trở thành đơn vị hành chính thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. 1977, thành lập thành phố Đà Nẵng trực thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. 1980, hoàn thành cơ bản cải tạo công thương.

1992, Đà Nẵng là đô thị loại 2. 1993, cấp phép đầu tư khu công nghiệp đầu tiên, khu chế xuất An Đồn. 1995, thông tuyến đường Đông - Tây (đường Nguyễn Văn Linh ngày nay). 1996, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng lần thứ XVI, đại hội cuối cùng của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (kéo dài từ ngày 24 đến 27-4-1996).

Dòng chữ “đại hội cuối cùng” để nhắc nhớ một con số khác, dù không xuất hiện tại không gian trưng bày này, nhưng ai cũng biết: 1997. Đó là thời điểm Quảng Nam - Đà Nẵng chia tách thành 2 đơn vị hành chính độc lập. Để rồi 28 năm sau, cả hai lại về chung một nhà và dựng nên “cột mốc” thời gian mới cho lịch sử địa phương: 2025.

Hóa thạch tên làng

Tôi dừng khá lâu trước con số 1954 và 1962, để xem kỹ 2 sắc lệnh in kèm. Các làng Cổ Mân, Tân Thái, Nam Thọ, Phước Trường thuộc tỉnh Quảng Nam sáp nhập vào thành phố Đà Nẵng theo Sắc lệnh số 16-NV do quốc trưởng Bảo Đại ký hồi tháng 2-1954. Đến tháng 7-1962, một số phần đất thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam cũng sáp nhập vào thành phố Đà Nẵng, theo Sắc lệnh số 157-NV của Tổng thống Ngô Đình Diệm.

bai-3.jpg
Không gian làng xã Đà Nẵng ở Bảo tàng Đà Nẵng. (ẢNH: TH.TRIỀU)

Cổ Mân, Tân Thái, Nam Thọ, Phước Trường… vẫn thấy thấp thoáng trong địa danh xứ Quảng sau này, như một “sứ giả” của quá khứ. Đấy là những sứ giả may mắn, nếu so với những tên đất, tên làng phải nhiều lần thay đổi theo dòng thời gian.

Đọc “Ô châu cận lục” do tiến sĩ Dương Văn An biên soạn vào năm 1553-1555, thấy chỉ có 23 làng trong tổng cộng 66 làng ở huyện Điện Bàn không đổi tên, chưa kể 3 làng không còn nữa (Ô Kha, Bình Sa, Duyên Đồ).

Thuộc phủ Triệu Phong, huyện Điện Bàn khi ấy có địa giới bao trùm các xã, phường ở Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, Quế Sơn, Hội An (Quảng Nam) và Hải Châu, Thanh Khê, Ngũ Hành Sơn, Hòa Vang (Đà Nẵng). Tất nhiên, những tên huyện thị, tỉnh thành vừa nhắc chỉ được đối chiếu đến trước ngày 1-7-2025.

Gần 5 thế kỷ, thời gian đủ dài để các địa danh ở dải đất từ Quảng Bình đến Bắc Quảng Nam của thời “Ô châu cận lục” biến thiên. Nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh khi dịch và bổ chú “Ô châu cận lục” đã khảo cứu thêm phần phụ lục về các làng trong “Ô châu cận lục” đổi tên từ 3 lần trở lên. Có 21 làng như thế, tập trung nhiều nhất ở Huế (10 làng), Quảng Bình và Quảng Trị mỗi nơi có 5 làng, Quảng Nam chỉ góp 1 làng, đấy là Sơn Phô thuộc phường Hội An Đông, vốn dĩ có tên Hoài Phố rồi Hoa Phố.

Sực nhớ cách đây 12 năm, từng có công trình bảo tồn và phát huy địa danh dân gian ở Hội An gây chú ý. Dưới góc độ ngôn ngữ và văn hóa, địa danh ở Hội An là bộ phận quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể.

Tác giả công trình cho rằng, địa danh dân gian là hóa thạch của tự nhiên, lịch sử và văn hóa, nhưng dù có “hóa thạch” thì một số địa danh cũng đã mất, đã lãng quên. Vậy nên, nhu cầu kiểm kê, nhận diện địa danh dân gian được đặt ra một cách cấp thiết.

Gần không gian trưng bày lịch sử đô thị Đà Nẵng ở Bảo tàng Đà Nẵng có khu vực giới thiệu về làng xã, in bản đồ vị trí các làng cổ. Có thêm bản đồ di tích giếng Chăm cổ, bày cả 2 trụ giếng bằng đá thế kỷ 19 thời vua Tự Đức phát hiện tại một nhà dân ở phía tây Đà Nẵng với các chữ Hán nhắc đến tên làng Qua Ổ.

Những “cột mốc” thời gian cứ thế nối dài, nhắc nhớ về tên đất tên làng xứ Quảng và chính thời gian dường như cũng sớm hóa thành di sản. Tìm trong mạch nguồn di sản ấy, sẽ phát lộ rất nhiều tầng vỉa ký ức đã hóa thạch.

(0) Bình luận
x
Nổi bật
Mới nhất
Khi thời gian hóa thành “di sản”…
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO