Trong những căn nhà của nhiều gia đình liệt sĩ ở Nam Sơn - Hòa Tiến, Đà Nẵng, giữa những tấm huân chương đã ngả màu thời gian và làn khói hương lặng lẽ bay lên, tôi dừng lại rất lâu trước những tấm Bằng Tổ quốc ghi công. Dòng chữ trang trọng ở phần đầu giống như hàng triệu tấm bằng khác trên khắp đất nước, nhưng ở phần ghi thân phận người đã khuất chỉ có hai chữ rất ngắn: Công dân.

Không quân hàm. Không cấp bậc. Không đơn vị. Chỉ hai chữ “công dân” bình dị lại khiến tôi lặng người lâu hơn bất kỳ dòng tiểu sử nào.
Họ là nông dân, là những bà mẹ, những cô gái, chàng trai vừa rời mái trường hay luống cày, gánh lên vai đạn dược, gánh gạo, gánh thương yêu của quê hương để đi về phía chiến trường. Và khi ngã xuống, Tổ quốc ghi nhận họ bằng danh xưng đẹp nhất, cũng bình dị nhất: Công dân.
Có lẽ vì thế mà hành trình tìm về Chiêm Chiêm của chúng tôi không chỉ để lần giở một sự kiện lịch sử đã xảy ra cách đây hơn nửa thế kỷ, mà còn để đi tìm ý nghĩa của hai chữ ấy.
Ở thôn Nam Sơn, xã Hòa Tiến, có gò đất Chiêm Chiêm phủ bóng cây, nép mình giữa làng quê giáp ranh Bồ Bồ - địa danh nổi tiếng với “trận Điện Biên Phủ” của xứ Quảng thời kháng Pháp. Sáng chiều, từng đàn chim vẫn bay qua dòng sông Yên, biền bãi xanh ngắt rau màu, người đi ngang khó có thể hình dung nơi này từng là tâm điểm của một đêm lửa đạn.
Nhưng những người còn sống thì chưa bao giờ quên.
Họ nhớ rất rõ đêm 13/7/1972, khi chiến trường Quảng Đà bước vào giai đoạn khốc liệt nhất. Để chuẩn bị cho trận tập kích sân bay Đà Nẵng và các căn cứ quân sự của địch, lực lượng ta phải đưa những quả đạn ĐKB, đạn cối áp sát vùng ven đô.

Gần một trăm dân công hỏa tuyến của Điện Sơn - Hòa Lợi thuộc Khu 2 Hòa Vang (cũ) được huy động đi vác đạn. Họ men theo bờ ruộng, lên bãi biền sông Yên nhận đạn rồi vận chuyển hướng về Chiêm Chiêm trong ánh trăng đầu tháng yếu ớt.
Đó là một đoàn người của làng quê.
Có người vừa gặt xong đám lúa. Có cô gái mới rời trang sách. Có người mẹ gửi con nhỏ cho bà nội, bà ngoại rồi đi vác đạn. Họ lặng lẽ như bao đợt đi dân công trước, chẳng ai nghĩ đang bước vào chuyến đi cuối cùng của đời mình.
Đến Chiêm Chiêm, ánh đèn pha từ máy bay địch bất ngờ quét xuống cánh đồng. Chỉ trong khoảnh khắc, bóng tối bị xé toạc. Pháo sáng bùng lên, tàu gáo quần thảo trên đầu, đại liên cùng pháo cấp tập dội xuống.
Đoàn dân công chạy tản ra tứ phía, trong đó có nhóm nhiều người dồn về bờ tre gần gò Chiêm Chiêm, nhưng bị tàu bay địch truy kích ráo riết cùng với xe tăng, bộ binh địch tràn tới bao vây.
Những quả đạn dân công đang vác cùng mạng người trở thành mục tiêu bắn phá, đất đá tung mù mịt, tiếng nổ chồng lên tiếng người gọi nhau, tiếng người bị thương la toáng.

Chỉ từ khoảng chín giờ rưỡi tối đến nửa đêm, 23 người đã ngã xuống. Trong số ấy có 17 phụ nữ. Có nhiều người mới tuổi mười bảy, mười tám, đôi mươi. Có người vừa làm mẹ. Có người còn chưa kịp mặc áo cưới. Có người chưa biết nụ hôn đầu của tình yêu đôi lứa. Họ đã ngã xuống trong lửa đạn ngút trời.
Đoàn dân công phần lớn chạy thoát, nhưng 5 người bị thương nằm lại (trong đó có các cô Trần Thị Thủy, Đỗ Thị Nhĩ, Nguyễn Thị Xinh hiện còn sống), bị địch bắt chở về chữa trị rồi đưa đi các trại giam cầm, khai thác.
Từ đó, đêm 13/7/1972 trở thành một phần ký ức không thể tách rời trong lịch sử của một vùng quê đất Quảng, và người dân gọi đó là “trận tên lửa”.
23 người hy sinh. Chiến tranh thường được nhắc đến bằng những con số. Nhưng đi dọc những ngôi làng Điện Sơn - Hòa Tiến hôm nay, tôi hiểu rằng mỗi con số ấy là một mái nhà, một cuộc đời chưa kịp đi hết tuổi xuân...
Người nhỏ tuổi nhất trong đoàn dân công năm ấy là Phạm Thị Hoa, sinh năm 1958. Mới chớm vào tuổi 15, Hoa đã nhận phần việc của người lớn, theo đoàn dân công vác đạn về phía chiến trường. Đêm ấy, chị nằm lại giữa Chiêm Chiêm, gửi trọn tuổi trăng tròn vào lòng đất mẹ.


Hơn nửa thế kỷ sau, người em trai là Phạm Viết Long vẫn giữ bức ảnh chị được phóng từ tấm hình nhỏ mang theo trong chiếc va li những năm ra Bắc ăn học. Anh kể rằng, ngày nhận tin chị hy sinh, nỗi đau lớn đến mức chỉ biết lặng lẽ đặt tấm ảnh lên rương sách vở, coi đó như bàn thờ chị. Hòa bình, mỗi lần trở về Chiêm Chiêm, anh đều ra thắp hương nơi người ta chỉ cho biết chị cùng nhiều dân công đã ngã xuống. Đất đã phủ xanh cỏ, nhưng ký ức thì vẫn còn đỏ rát trong mắt người.
Gia đình bà Nguyễn Thị Tháo lại gánh chịu mất mát còn quặn thắt hơn. Chỉ trong một đêm, bà Tháo mất người con gái là Nguyễn Thị Thôi và con dâu Nguyễn Thị Cúc. Người cháu nội bà Tháo là chị Nguyễn Thị Hoa đến nay vẫn không quên buổi sáng năm ấy, khi mới chín tuổi đã theo người lớn chạy ra bãi chiến trường tìm người thân. Gia đình chỉ đưa được thi thể mẹ về, còn người cô bị đạn thiêu cháy phải chôn cất ngay tại chỗ rồi sau này mới cải táng.
Trở về nhà, nghe bà nội gào khóc đến ngất lịm giữa sân: “Trời ơi, các con chết hết rồi, bỏ mẹ sống với ai...”. Tiếng kêu ấy, theo lời chị Hoa, đến giờ vẫn như còn văng vẳng mỗi lần gia đình nhắc lại chuyện cũ. Chiến tranh không chỉ lấy đi sinh mạng của hai người phụ nữ, mà còn để lại một khoảng trống không thể lấp đầy trong suốt mấy chục năm sau.
Ở một ngôi nhà khác, chị Trần Thị Hoa cũng rơi vào thân phận mồ côi. Mẹ chị, bà Phạm Thị Cưu, hy sinh trong “trận tên lửa”, để lại năm người con thơ, trong đó đứa nhỏ nhất mới ba tuổi. Mỗi lần theo các nhân chứng trở lại nơi mẹ ngã xuống, chị lặng lẽ thắp nén hương xuống bãi cỏ, rồi đứng nhìn thật lâu về phía hàng tre cũ. Có những giọt nước mắt không còn cần lời kể, bởi đã mang đầy trong đó câu chuyện bi tráng.
Còn với ông Đỗ Tài, nguyên Bí thư Huyện ủy Đông Giang (Quảng Nam cũ), ký ức chiến tranh gắn với cảnh mồ côi cả cha lẫn mẹ. Cha ông đã hy sinh trong một chuyến dân công, rồi đến đêm 13/7/1972, mẹ ông tiếp tục ra đi và không bao giờ trở về. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, với ông Tài, nỗi đau mồ côi do chiến tranh chưa thôi thổn thức như tiếng lòng của biết bao đứa trẻ lớn lên từ thời chiến.
Đi nhặt ký ức vùng đất, tôi chợt hiểu điều đau đớn nhất của chiến tranh là khoảng trống nó để lại trong từng gia đình. Có những đứa trẻ mồ côi. Có những người phụ nữ suốt đời không mặc áo cưới. Có những mái nhà, qua ba thế hệ, vẫn nhắc mãi về đêm 13/7/1972 (ngày giỗ chung theo âm lịch là mùng 3/6).
Nhiều năm nay, ông Trần Văn Vinh, nguyên Phó Trưởng ban Tuyên giáo Thị ủy Điện Bàn, đại diện thân nhân liệt sĩ cùng nhiều cựu chiến binh, bộ đội ở Trung đoàn tên lửa 575, và người dân địa phương lặng lẽ đi tìm từng mảnh tư liệu, gặp từng nhân chứng, đối chiếu từng danh sách để xây dựng hồ sơ về sự kiện lịch sử đêm 13/7/1972.

Công việc ấy gói đầy mong ước trả lại cho lịch sử một địa chỉ xứng đáng với những gì đã diễn ra nơi đây.
Rồi những ngày giỗ chung, những chuyến về nguồn, những nén hương của cựu chiến binh, thân nhân và lớp trẻ lần lượt tìm về. Từ một am thờ nhỏ sau chiến tranh, tại Chiêm Chiêm đã có tấm bia tưởng niệm được dựng lên. Năm 2019, nhà bia được sửa chữa từ sự đóng góp của cựu chiến binh và các gia đình liệt sĩ.
Mới đây, từ bức tâm thư của ông Trần Văn Vinh gửi đến các cơ quan chức năng, việc lập hồ sơ đề nghị công nhận Chiêm Chiêm là di tích lịch sử tiếp tục được địa phương quan tâm.
Di tích Chiêm Chiêm, nếu được công nhận, không chỉ để nhắc về một “trận tên lửa”. Điều đáng quý hơn là nơi ấy sẽ kể lại câu chuyện trong cuộc chiến giành độc lập, có một lực lượng không mang quân hàm, không có phiên hiệu, nhưng vẫn góp phần vào lịch sử kháng chiến bằng chính đôi vai và lòng yêu nước của mình.
Vì vậy, thiết nghĩ di tích cần được đầu tư cho xứng tầm “tượng đài công dân” với quần thể công trình tưởng niệm, mô tả sự kiện như câu chuyện người dân nơi đây đã lưu giữ suốt hơn nửa thế kỷ qua.
Rời Chiêm Chiêm khi mặt trời đã khuất sau lũy tre, trong tôi vẫn mãi suy tư hai chữ “Công dân” trên những tấm Bằng Tổ quốc ghi công.
Có lẽ vì hai chữ ấy, Chiêm Chiêm không chỉ là một địa danh của chiến tranh. Đó còn là biểu tượng của lòng dân Việt Nam nói chung, của xứ Quảng, Đà Nẵng nói riêng. Và khúc tráng ca còn vang vọng nơi đây không chỉ được viết bằng tên của những người dân quê tôi mà còn bằng những giọt nước mắt chưa bao giờ vơi, và bằng hai chữ giản dị nhưng thiêng liêng mà Tổ quốc đã dành để ghi nhớ họ: CÔNG DÂN.