Xuân - Thu nhị kỳ hay những dịp lễ tiết khác, hình ảnh mọi người khấn vái, cầu nguyện rất đỗi quen thuộc, thể hiện sự gửi gắm niềm tin của con người với thế giới siêu nhiên.

Hành trình ấy được lưu dấu qua những bài văn cúng, nơi ước nguyện dân sinh hóa thành nghi thức thiêng liêng.
Lời nguyện ban sơ thường xuất phát từ những lo âu trước thiên nhiên và vận mệnh. Nó là tiếng cầu an, xin được che chở giữa dòng đời bất trắc. Lịch sử dân tộc ghi dấu những lời khấn nguyện từ thuở hồng hoang.
Đại Việt sử ký toàn thư có chép những chuyện khấn cầu, văn tế. Năm 257 trước Công nguyên, thành Cổ Loa “cứ đắp xong lại sụt”, An Dương Vương “lấy làm lo, mới trai giới khấn trời đất và thần kỳ núi sông rồi khởi công đắp lại”.
Đến năm 186, một lời khấn thiết tha đã vang lên: "Xin trời vì nước Việt ta sớm sinh thánh nhân... để khỏi bị người phương Bắc cướp vét”. Những lời cầu khẩn không chỉ dừng lại ở vận mệnh quốc gia. Năm 549, giữa cơn nguy khốn trước quân Lương, vua Lý Nam Đế đốt hương khẩn cầu, lập tức có điềm lành xuất hiện, “được mũ đâu mâu móng rồng dùng để đánh giặc”.
Năm 1012, vua Lý mang quân đi đánh giặc, khi đang trên biển bỗng trời đất tối sầm, gió sấm dữ dội, vua đốt hương khấn trời rằng: “Tôi là người ít đức, lạm ở trên dân, nơm nớp lo sợ như sắp sa xuống vực sâu, không dám cậy binh uy mà đi đánh dẹp càn bậy (…) xin lòng trời soi xét”, quả nhiên sóng yên biển lặng.
Đặc biệt, năm 1282 đánh dấu cột mốc quan trọng khi Hình bộ Thượng thư Nguyễn Thuyên làm bài văn tế cá sấu trên sông Lô - tác phẩm được xem là khởi đầu cho văn cúng thành văn tại Việt Nam. Cũng năm này, vua Trần tự tay viết văn tế thương tiếc Trần Quốc Toản, cho thấy lời nguyện từ ban sơ đã dần được định hình thành một thể tài văn chương bài bản.
Văn cúng là một thể tài văn học đặc biệt, một tên gọi chung cho nhiều loại như văn tế, văn khấn, sớ, điệp (theo cách Việt), tế văn, kỳ văn, chúc văn, yết văn (theo cách Hán)... dùng để cáo với người chết hoặc các vị thần thánh.
Chính sự đa dạng trong cách gọi tên và tính quy chuẩn trong thực hành đã cho thấy văn cúng là một “chứng nhân”, chứng tích văn hóa, góp phần làm phong phú đời sống tín ngưỡng; không chỉ là sản phẩm văn chương mà còn là một di sản văn hóa tâm linh đặc sắc.
Bức tranh văn hóa tâm linh triều Nguyễn thế kỷ XIX hiện lên rõ nét qua 42 bài văn cúng của danh thần Phạm Phú Thứ trong tập Kỳ tế văn. Đó không chỉ là những lời khấn suông mà là cả một xã hội thu nhỏ với đủ mối lo toan, khát vọng. Theo đó, người hậu thế như chứng kiến cả một xã hội xưa “ngửa mặt lên trời” gửi gắm mọi ước nguyện.
Ông viết văn cúng về nông nghiệp, cầu mưa thuận gió hòa Đảo vũ văn, cầu cho đê điều kiên cố trước thiên tai (Kỳ đảo đê điều ổn cố văn). Khi dịch bệnh hoành hành, ông soạn bài cúng Mật đảo Quan Thánh miếu khấn xin thần linh phù hộ cho dân lành thoát khỏi bệnh thổ tả. Và khi bệnh tật qua đi, ông lại có văn tạ ơn (Bệnh thuyên tạ Quan Thánh miếu).
Không chỉ chú trọng vấn đề nông nghiệp, mưa thuận gió hòa (có tới 11 bài văn cúng), an ninh chính trị cũng là điều được cầu mong. Ông làm văn yết đảo ở đền Vạn An, khấn Thành hoàng, xin các vị thần phù trợ giải quyết nạn lưu dân gây rối ở đảo Cát Bà.
Mỗi bài văn cúng, khi được hóa vàng, như một lời nhắn nhủ, một sự ký thác của con người nhỏ bé vào thế giới tâm linh thiêng liêng, khép lại một câu chuyện và mở ra một niềm tin về sự phù hộ độ trì.