Làng xã là không gian văn hóa đặc biệt - nơi kết tinh tâm hồn, cốt cách, phong tục tập quán, lễ hội và bản sắc của người Việt.

Tuy nhiên, trước tốc độ đô thị hóa, nhiều giá trị văn hóa làng đang đứng trước nguy cơ mai một. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nhận diện đúng giá trị văn hóa làng xã để vừa bảo tồn vừa phát huy trong cuộc sống đương đại.
Từ vùng đất Thanh, Nghệ, Tĩnh những lớp lưu dân Việt đã mang theo tiếng nói, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, văn hóa dân gian và cả tên đất tên làng quê cũ tiến về phương Nam. Tên đất tên làng, tên sông, tên núi, vùng biển xa khơi hay ven bờ như một khế ước, định danh chủ quyền ở vùng đất mới. Không đơn thuần là địa danh hành chính, đây là ký ức lịch sử, dấu vết lưu dân, bản đồ văn hóa, hồn cốt cộng đồng và cũng là căn cước tinh thần của con người xứ Quảng.
Ngày nay, trong quá trình sáp nhập đơn vị hành chính, nhiều tên làng, tên xã cổ có nguy cơ biến mất khỏi đời sống cộng đồng. Điều đó đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc bảo tồn địa danh truyền thống như một hình thức giữ gìn di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc.
Làng không chỉ là nơi để ở, mà là nơi để nhớ, để trở về, để giữ lấy căn tính của dân tộc. Một đất nước có thể hiện đại hóa rất nhanh, nhưng nếu đánh mất văn hóa làng thì sẽ mất đi phần sâu thẳm của tâm hồn dân tộc. Mỗi làng có hương ước được dân làng thống nhất lập ra nhằm định hướng cho việc ăn ở, đi lại thờ cúng, nghĩa vụ công dân... Chính quyền thời phong kiến rất tôn trọng hương ước làng cho nên có câu: “Phép vua thua lệ làng”.
Nghiên cứu văn hóa làng cần xem xét các yếu tố văn hóa xã hội, văn hóa tư tưởng và văn hóa nghệ thuật. Trong xã hội nông thôn ngày xưa, hình ảnh cây đa, giếng nước, mái đình, ngôi chùa, góc miếu, bãi mía, nương dâu gợi nhớ, hoài niệm về ký ức quê nhà. Làng quê xứ Quảng còn có tổ đình của làng nghề truyền thống, có những gia đình hiếu học để được tôn vinh như: Tam Phụng, Ngũ Phụng tề phi, Lục Phụng bất tề phi... trở thành tinh hoa của làng xã xứ Quảng, được khắc tên vào bia đá, vào văn học dân gian và cả âm nhạc, mỹ thuật.

Giữ hồn cốt văn hóa làng hôm nay không phải là quay lại quá khứ mà đó là con đường để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nghiên cứu văn hóa làng, không chỉ ca ngợi những giá tri tốt đẹp mà còn cần nhìn nhận một cách khách quan những hạn chế lịch sử của văn hóa làng xã để khắc phục trong kỷ nguyên mới.
Thách thức lớn nhất hiện nay không phải bảo tồn hay xóa bỏ văn hóa làng xã, mà phải chuyển hóa văn hóa làng từ một cộng đồng khép kín sang một cộng đồng mở, từ tư duy cục bộ sang tư duy quốc gia, từ lệ làng sang thượng tôn pháp luật, từ bảo thủ sang đổi mới sáng tạo, nhưng vẫn giữ được hồn cốt của làng.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Bác còn căn dặn: “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì mới cũng làm. Cái gì cũ mà xấu thì phải hủy bỏ, cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm, cái gì mới mà hay thì phải làm”. Đây chính là tư tưởng rất phù hợp với việc bảo tồn và phát huy văn hóa làng xã Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển.
Ngày nay, thực hiện việc sáp nhập thôn, tổ dân phố nhằm giảm các đầu mối, giảm tầng nấc trung gian và giảm người hoạt động không chuyên trách là việc làm cần thiết, giúp cho công tác quản lý đáp ứng yêu cầu công nghệ số, kỷ nguyên số theo tiêu chí văn minh, hiện đại. Tuy nhiên, trong quá trình sáp nhập nếu chỉ quan tâm đến yếu tố hành chính mà thiếu sự quan tâm đến yếu tố văn hóa thì dễ dẫn đến hiện tượng mất tên làng, phai nhạt ký ức cộng đồng.
Do đó, cần có các giải pháp để giữ lại tên làng trong đời sống xã hội. Có thể gắn biển tên làng cổ, đưa tên làng vào địa chỉ văn hóa và giữ tên làng trong trường học, thiết chế văn hóa, di tích, đình làng, chùa... và trong các làng nghề truyền thống.
Bảo tồn các thiết chế văn hóa truyền thống như miếu làng, đình làng, nhà thờ tiền hiền, cây đa, giếng cổ, không gian lễ hội và xem đây là cột mốc ký ức của cộng đồng. Trên cơ sở đó, có thể thành lập các hội đồng tư vấn như ban quản lý đình làng; các câu lạc bộ con cháu hiếu thảo; câu lạc bộ nàng dâu hiếu thảo; câu lạc bộ những người lưu giữ ký ức cộng đồng. Hằng tháng có thể gặp mặt sinh hoạt giao lưu, kể chuyện... trao truyền cho thế hệ trẻ.
Thực tế đã có những làng phát triển, bảo tồn, giữ gìn và phát huy nguồn lực rất tốt như: làng nước mắm Nam Ô, đá mỹ nghệ Non Nước, mộc Kim Bồng, trống Lâm Yên, chiêng Phước Kiều, rau Trà Quế, gốm Thanh Hà... đã chứng minh công tác bảo tồn và phát triển kinh tế có thể song hành ngay trên từng làng xã.
Sáp nhập thôn, tổ dân phố mục đích là để quản lý tốt hơn, nhưng tuyệt nhiên không được làm mất tên làng, mất ký ức làng, đứt gãy không gian văn hóa làng và mất bản sắc cộng đồng. Nếu làm được điều đó, chúng ta vừa xây dựng một nền quản trị hiện đại vừa giữ được hồn cốt của làng xã Việt Nam - nền tảng quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc trong thời đại hội nhập phát triển.