VHXQ - Suốt hàng thế kỷ, cuộc giao thoa giữa người Việt, người Chăm và các nhóm cư dân miền núi sinh sống dưới tán rừng Trường Sơn đã tạo nên một hệ sinh thái văn hóa độc đáo. Chính tại vùng trục ấy, những vật phẩm văn hóa như chum, ché gốm, hạt mã não cho đến chuỗi cườm và vòng cổ bạc – là những ký tự vật chất ghi lại sự kết nối sâu xa giữa các cộng đồng cư dân cổ, mang đậm dấu ấn nền văn hóa Sa Huỳnh.

Ki’nonh - dấu xưa sót lại
Khi nhắc đến Ki’nonh, một ngôi là cổ của người Cơ Tu thuộc xã A Xan, huyện Tây Giang (cũ) - nay là xã Hùng Sơn, rất nhiều người đặt nghi vấn: ở một nơi xa xôi hẻo lánh giáp biên với nước bạn Lào, bằng cách nào mà cộng đồng bản xứ có thể làm được nghề gốm? Liệu có phải đây là nghề đặc trưng của cộng đồng, hay chỉ được hình thành sau quá trình giao thoa văn hóa của lịch sử?
Nhưng điều thú vị ở Ki’nonh, dù đã trải qua hơn 6 đời người sinh tồn, nghề gốm vẫn được duy trì như một dấu xưa sót lại và tồn tại suốt hàng thế kỷ.
Những thắc mắc đó, ngay các cụ cao niên ở làng Ki’nonh cũng không thể giải đáp. Trong ký ức mơ hồ của họ, ngày trước, quá trình giao thương giữa các miền, từ đồng bằng lên miền ngược và sang nước bạn Lào giúp người làng học được món nghề gốm, rồi truyền lại cho con cháu.

Một câu chuyện khác, được kể rằng “chủ nhân” đầu tiên phát minh ra nghề gốm là một người con gái trong làng, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt.
Ông Bhling Nôi, Bí thư Chi bộ thôn Ki’nonh quả quyết, nguyên liệu gốm được làm ra ở làng chỉ duy nhất lấy về thung lũng K’ool. Loại đất sét có màu vàng nhạt này, sau quá trình trộn đều với nước phải dùng chày giã nhuyễn, trước khi nhào nặn hình thù gốm theo ưa thích.
“Tất cả sản phẩm gốm đều làm bằng thủ công và được ra lò sau thời gian phơi khô, nung lửa. Gốm không có khuôn mẫu chung nên các nghệ nhân có thể sáng tạo sản phẩm theo cảm hứng. Ngày trước, gốm của làng Ki’nonh này được bán cho các địa phương lân cận, thậm chí là gùi sang một số cụm bản của Lào để đổi lấy gạo, thổ cẩm, mã não”, ông Nôi chia sẻ.
Vài năm trở lại đây, gốm chỉ được ít người ở làng Ki’nonh làm được. Gần như tất cả mẫu gốm do các nghệ nhân của làng chế tác trước đây đều được trưng bày ở một không gian bên trong gươl truyền thống.
Từng chiếc gốm sẫm màu đất nung, được cẩn thận đặt cạnh nhau, người Cơ Tu ở Ki’nonh dùng vôi trắng ghi lại tên gọi của sản phẩm thủ công mang dấu ấn văn minh của làng. Gốm bây giờ như dấu tích một thời vàng son ngày cũ.
Ở một số thời điểm, các mẫu đất nung của người Cơ Tu trở thành sản phẩm du lịch, phục vụ du khách tham quan, tìm hiểu văn hóa…
“Hiện thân” của thần linh
Người Cơ Tu quan niệm, các chum, ché, thanh la, thổ cẩm cổ được truyền lại qua nhiều thế hệ, đều mang yếu tố tâm linh rõ nét. Những cổ vật này luôn được xem như “hiện thân” của các vị thần để bảo vệ thành viên trong gia đình.

Điển hình như ché. Những chiếc ché cổ được bảo lưu hàng trăm năm, nếu không phải là chủ hộ, người ngoài rất khó tiếp cận và lại gần. Điều này một phần là do giá trị của ché cổ rất cao, mặt khác người Cơ Tu tin vào chuyện thần linh, sợ bị thần trách phạt khi tự ý mạo phạm.
Nhiều năm trước, chúng tôi ghé thăm nhà của ông Alăng Linh, một nghệ nhân Cơ Tu chuyên sưu tầm cổ vật ở miền núi xứ Quảng. Mở đầu cuộc trò chuyện, nhất là trước lời đề nghị chụp ảnh cổ vật, ông Alăng Linh vội thắp nén hương, thực hiện nghi thức “báo cáo” để xin phép thần linh.
Thời điểm đó, khắp căn nhà của ông Linh xếp đều cả gần 100 chum, ché, chiêng cổ… Số cổ vật này được ông ròng rã hàng chục năm sưu tầm, trở thành di sản riêng của gia đình.
Lần khác, tại làng A Điêu, xã A Rooih, huyện Đông Giang (cũ) - nay là xã Đông Giang, chúng tôi chứng kiến người dân Cơ Tu “cất” những chiếc chum, ché cổ vào trong sập gỗ, rồi khóa lại cẩn thận. Một số ché khác, có giá trị thấp hơn được đặt ngay ngắn trên bàn thờ gia tiên, bảo quản rất nghiêm ngặt.
Những người Cơ Tu sành cổ vật, chỉ cần nhìn lên hoa văn, mẫu mã và chất liệu gốm bên ngoài vỏ ché, có thể đoán biết tuổi đời, cũng như giá trị. Quá trình nhận biết này được truyền lại từ nhiều thế hệ, sau hàng trăm năm giao thoa văn hóa vùng miền.

Già Y Kông, nguyên Chủ tịch UBND huyện Đông Giang (cũ) cho rằng, tùy theo mức độ giá trị của chum, ché, người Cơ Tu sử dụng chúng vào từng mục đích cụ thể.
Ví dụ, ché dùng để ủ rượu cần hay làm vật trang trí nhà cửa, thường có giá trị khá thấp, dao động vài trăm nghìn đồng đến vài triệu đồng/chiếc. Những loại chế này cũng thường được làm quà tặng biếu giữa cộng đồng trong các dịp cưới hỏi, thăm thân.
Riêng ché cổ, có niên đại hàng trăm năm, rất ít khi trưng diện, mà được bảo quản bí mật hoặc đặt ở một vị trí không gian linh thiêng của ngôi nhà. “Đây được xem như một cách tôn vinh, coi trọng cổ vật của chủ nhà”, già Y Kông nói.
Chỉ dấu lịch sử
Các tộc người miền núi xứ Quảng từng ghi nhận các chỉ dấu lịch sử về “con đường muối”, “con đường thổ cẩm”… theo chiều xuôi ngược đông - tây, trải dài từ các địa phương đồng bằng lên tận biên giới. Những tuyến đường này, dù nay ít nhiều đã mất đi hoặc đã được đổi tên khác, nhưng nhiều nơi vẫn còn nguyên dấu tích lịch sử về con đường giao thương kinh tế, giao lưu văn hóa giữa cư dân bản địa với các thương lái miền xuôi. Điển hình như địa danh Bến Hiên, Bến Giằng hiện được đặt tên cho đơn vị hành chính mới cấp xã, gợi lên mảng màu ký ức về địa điểm giao thương ngày cũ của người dân hai miền xuôi - ngược.