baodanang.vn

Ẩm thực

Hương vị cây cà mùa đông

NHỤY NGUYÊN

ĐNCT - Tôi về quê thấy còn hòn đá tròn tròn, to như cái mủng gàu xưa. Nó dùng để dằn vại cà muối, làm nên món ăn chính suốt mùa đông, nuôi lớn tuổi thơ chúng tôi.

Vại cà muối theo cách làm truyền thống của người dân quê. Ảnh: Tư liệu

Bao nhiêu gian khó đã trôi, hòn đá là kỷ niệm đẹp neo lại, còn những quả cà thì lăn từ đời sống vào văn học.

Cây cà tỏa bóng văn chương

Phùng Quán từng sống ở quê nội có vườn rộng xanh tươi. Ông cũng có lần ở trên núi, viết Lá Khổ sâm quên muộn phiền. Nhiều cây cối quanh mình được ông đưa vào thơ như Cây vạn niên thanh, Cây xương rồng, Cây dứa, Quả bí xanh...

Thêm vào đó là một tác phẩm lừng lững giữa thi đàn: Trường ca cây cà, gồm 6 chương với 56 câu; được Phùng Quán sáng tác năm 1980, in lần đầu tiên trên Báo Quảng Nam - Đà Nẵng Chủ nhật số 7, ngày 15/2/1987. Tôi ngồi đọc lại trường ca này và thấy ý nghĩa thêm nhiều trong một ngày ngồi bên hiên nhìn ra vườn quê đầy nắng.

Gia đình ngày xưa làm nông, tôi chính tay trồng cà nhưng chỉ biết đến giá trị thức ăn quanh năm của nó. Nay đọc trường ca thì hình ảnh luống cà hiện lên thật mỹ miều. Đặc trưng của màu tím hoa cà tận mắt ngắm nhìn thật lâu sẽ ngộ ra vẻ đẹp quyến rũ của nó.

Trái cà cỏ, nhỏ bằng đầu ngón cái, thứ tôi từng xắt mỏng, ngâm với nước vo gạo và chút muối để thải đắng. Loại này nấu canh với lá lốt rất ngọt nước, hồi xưa ít khi xào vì không có dầu mỡ. Loại cà thích nhất là cà dừa, trái to bằng cả nắm tay. Da nõn nà trắng, rồi như có thứ màu xanh sệt đổ từ cuống chảy xuống lấp không hết, và đó là sự hấp dẫn của màu da “trinh nữ”, cùng với “lá xanh men ngọc” như trong thơ của Phùng Quán. Cà dừa cũng nấu canh; bởi trái to nên không đem muối như cà cỏ.

Trong truyền thuyết Thánh Gióng, quả cà là một hình ảnh dân dã gắn với nhiều chi tiết thú vị về nguồn gốc và sự trưởng thành của một người anh hùng. Ngoại trừ chi tiết có trong sách Ngữ văn ở phần đầu truyện, khi sớm ấy người mẹ nhìn thấy dấu chân lớn dẫm nát mấy luống cà, ướm chân mình vào và từ đó mang thai; thì còn nhiều dị bản truyện Thánh Gióng nhắc đến đứa trẻ ăn cơm cà lớn phỗng.

Trong Trường ca cây cà nhà thơ Phùng Quán viết: “Vì sao/ Gióng/ Trước khi lên ngựa sắt/ Vung roi trừ giặc/ Chỉ ăn cơm cà/ vì Gióng biết/ Trong trái cà lao lực khiêm nhường/ Ẩn giấu/ tiềm tàng/ Cái bền gan của đất/ trí khôn của nước/ Cái ngoan cường không khuất của cây/ sức mạnh của những gì rất thật/ Tấm lòng thơm thảo của dân/ ăn hết bảy nong cơm/ Ba nong cà/ Chú bé không cha/ Làng Phù Đổng/ Đứng dậy vươn vai/ thành Thánh Gióng/ Người cứu nước khổng lồ”.

Trong văn học dân gian Việt Nam, hình ảnh cây cà, quả cà xuất hiện nhiều. Câu ca dao “Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương” trở thành biểu tượng đẹp đẽ của sự thủy chung chồng vợ. Quả cà gợi nhớ bữa cơm quê mộc mạc, đậm đà tình thương khiến người ta không thay lòng đổi dạ mà quên đi nhọc nhằn từng cùng nhau san sớt. Cây cà cũng hòa vào thế giới trẻ thơ qua đồng dao “Cái sáo mặc áo em tao/ Làm tổ cây cà/ Làm nhà cây chanh…”. Hay cùng “đến chơi cây cà, cây cà cho trái”.

Đặc sắc nhất vẫn là nụ tầm xuân trong không gian thơ: “Trèo lên cây bưởi hái hoa/ Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân/ Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc/ Em lấy chồng anh tiếc lắm thay”. Cây cà làm nhân chứng cho sự chia ly, đau đáu nuối tiếc, ngẩn ngơ trước sắc tím rỡ ràng, bung biêng một góc trời day dứt.

Quả cà lăn qua kỳ giáp hạt

Nhớ quả cà được mấy đứa con gái ngồi quây chơi trò đánh thẻ; quả cà vung lên cao còn nắm thẻ thì đôi tay thon múa đều rồi sắp hình phía dưới. Nhớ quả cà muối là món ăn theo tôi qua năm tháng.

Thử hỏi, tại sao mớ cá cơm, cá nục ăn ngay không nhiều chất, mà lúc muối rồi, dẫu chỉ một muỗng nước mắm vẫn mang lại dưỡng chất mà cơ thể cần. Sao một khuôn đậu cũng chỉ là dưỡng chất vừa phải, lúc ướp ra chao tương lại chứa nhiều thứ vitamin rất cần cho người ăn thuần thực vật. Và cũng như quả cà, ăn sống ngay thậm chí có chút độc tố, mà ướp với muối hột lâu ngày chày tháng lại thành thức ăn hồi xưa ấy có thể thay thế được các loại thực phẩm chất lượng.

Cái vại muối cà giờ vẫn còn nơi góc nhà, dùng đựng gạo, đậu phụng. Cục đá đen thui lấm tấm trắng là ấn tượng nhất. Tôi nghĩ nó là loại đá thanh xanh xám ở khe suối, hiếm lắm người ta mới gặp cục tròn và trở màu qua sẫm, khi dầm mặn lâu năm thì đen dần. Nó có từ khoảng năm 1950, tức là cả đời người “thất thập” rồi. Cục đá đó năm nào cũng ngâm trong vại cà mặn.

Cà được gia đình trồng luống ngoài đồng và trong vườn. Chúng tôi hái vào gọt cuống; phải dao sắc gọt không được lẹm vào quả, như vậy cà muối cả năm nước mặn vẫn không thấm vào lòng để trái cà hỏng đi. Gọt cuống cà rồi rửa sạch đem phơi cho ráo nước. Người ta nói muối gì cũng phải có tay mới ngon, có người hễ đụng vào dưa cà là thối, là chua. Cứ một lớp cà, một vốc muối hột rải đều, cho đến khi đầy vại thì rắc muối lấp kín rồi ấp lên cái bửng đan bằng thứ tre già. Tôi bê cục đá lớn nặng khoảng 5kg dằn lên bửng. Vậy cũng chưa xong. Công đoạn tiếp là rang thính, tức là rang tấm cho vàng thơm nức. Xong nấu một nồi nước muối, sôi thì bỏ thính vô, nước chuyển vàng, nhắc xuống để đến lúc nguội hẳn mới đổ vào vại cà, đậy lên cái nón cời kín mít.

Một vại lớn muối được cả 3 sảo cà. Cà cỏ ngày đó quả lớn hơn giờ nhiều. Tôi có đi các chợ xem quả cà, song vẫn không thấy loại cà cỏ to ấy, có lẽ mất giống rồi; giờ toàn cà cao sản, cho quả nhiều. Bà ngoại dặn tôi phải chọn loại cà vừa, hơi non chút càng tốt. Muối cà thường bắt đầu từ mùa cà tháng Tư, muối cho đến mùa đông là bắt đầu ăn, ăn đến mùa cà năm sau. Vại cà được cục đá nặng dằn trên cái bửng tre đan dày, không quả nào nổi lên. Nhớ nhất lần đầu khui vại cà, thơm lừng, nhúng tay vào nạy lên một vốc, quả nào cũng trắng ngần, thường bị dẹt hình, cắn vào nghe đốp, mặn vừa bởi muối ngấm đã lâu. Chỉ tiếc không có cơm mà ăn; cái thời cơm độn khoai ba lớp mà còn thiếu.

Bây giờ còn loại cà muối đó, tôi sẽ ăn đến... lủng nồi cơm vào mùa đông lạnh mất. Cái thời mỡ dầu xa xỉ, chứ cà muối ấy lâu lâu được cắt từng trái ra xào lên thì ăn không thể tả hết cảm giác ngon.

Quả cà muối, hẳn vậy mà dân gian đã kể rằng, Gióng ăn cơm với mấy vại cà trước lúc vươn vai lên ngựa đánh tan giặc giã.

NHỤY NGUYÊN