Văn hóa - Văn nghệ


Sau tấm màn nhung, có những đời thường

THUẬN TRIỀU 08/11/2025 13:02

VHXQ - Sau tấm màn nhung là muôn mặt đời thường của nghệ sĩ: yêu nghề, vất vả đào luyện và cả những giai thoại thú vị… Thử nhận diện đôi chút “đời thường” của nghệ sĩ Việt trong quá khứ.

Diễn viên Nhà hát tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh (Đà Nẵng) diễn vở
Diễn viên Nhà hát tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh (Đà Nẵng) diễn vở "Hoàng Diệu" tại TP.Tam Kỳ (cũ) hồi tháng 5/2013 (ẢNH: THUẬN TRIỀU)

Chìm nổi đời hề

Khi John Barrow có chuyến du hành đến Nam Hà hồi cuối thế kỷ 18, ông từng có dịp ghé xem vở tuồng lịch sử ở một làng ven biển Đà Nẵng. Viên quan địa phương mang đến cho John Barrow những đồng tiền xâu buộc vào dây, để ném về phía diễn viên nếu thấy nghệ sĩ trình diễn ấn tượng thay vì chỉ vỗ tay tán thưởng.

Khi ấy, các diễn viên hoặc được thuê để biểu diễn trong các cuộc vui tư nhân với thù lao được ấn định cho cả ngày, hoặc xuất hiện trước công chúng trong một lán dựng tạm.

Những khán giả như John Barrow được “thưởng thức bằng mắt cũng như bằng tai” trong chiếc lán dựng làm rạp hệt như trong nhà hát Haymarket, với những điệu múa lắt léo và chát chúa tiếng cồng chiêng.

Trong suy nghĩ của nhà du hành người Anh, vở diễn ở Nam Hà thời đó không quá nặng về chuyện tiền nong. “Xem kịch hát ở Trung Quốc cũng như ở Nam Hà không bao giờ phải mất tiền vào cửa”, ông viết trong cuốn du ký “Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà 1792 - 1793”.

Theo thời gian, thế giới nghệ thuật dần được vây bọc bởi tấm màn nhung và ánh đèn sân khấu. Nhưng để vén tấm màn nhung và tự tin bước ra sân khấu, nghệ sĩ say nghề thôi chưa đủ. Cuộc mưu sinh với nhọc nhằn đời thường, “cơm áo không đùa với khách thơ” như thi sĩ Xuân Diệu từng viết, luôn đeo đẳng kiếp cầm ca.

Trong ngồn ngộn kỷ niệm của “Hồi ký 50 năm mê hát”, học giả Vương Hồng Sển có viết về những diễn viên hề (cải lương) với nhiều phận đời chìm nổi. Hề Được của gánh thầy thuốc Minh ở Sóc Trăng, hay hề Lũ, hề Lu, hề Tấn Lộc… chết tại nhà thương Chợ Rẫy. Hề Giác của gánh Hoa Sen, gánh Việt Hùng, gánh Minh Chí “tuy hề mà quân tử, không muốn nhờ nhõi anh chị đã giàu”, sau này đi bán cháo Tiều, cháo trắng dưới dốc cầu chữ Y…

Rồi cụ Vương cảm thán:

Còn biết bao nhiêu hề chết nghèo vì bịnh hoạn, chết mòn vô danh sau khi moi ruột gan đem sở trường chọc được tiếng cười giòn tan của khán giả. “Sáng nầy tôi xin tưởng niệm các anh bằng mấy giọt nước mắt cảm tình khâm phục đọng bên mi”, cụ Vương viết.

Chuyện một gánh tuồng xứ Quảng

Ở miền Trung, quãng giữa thế kỷ 20, gánh hát bội Cổ Mân từng chỉ tồn tại 3-4 năm rồi tan rã. Vì gánh lập lúc các diễn viên còn trẻ, đến khi lập gia đình họ phải lo làm ăn.

4.jpg
Một cảnh trong vở nhạc kịch của người Nam Hà, in trong cuốn du ký John Barrow.

Gánh hát Bàu Toa danh tiếng ở vùng Đại Lộc cũng vậy: Chỉ hát theo mùa, làng nào mời mới đi; ngày thường diễn viên quăng quật với đồng ruộng… Gánh Bàu Toa sớm tan rã từ những năm 1938 - 1940, chỉ những nghệ sĩ thành danh như cụ Nguyễn Nho Túy mới gia nhập đoàn khác để tiếp tục thăng hoa.

Đấy là chuyện xưa xứ Quảng, được nhà nghiên cứu Phạm Hữu Đăng Đạt ghi nhận.

Giai thoại tuồng Quảng Nam còn lưu lại câu chuyện liên quan đến NSND Nguyễn Nho Túy, tức Đội Tảo, một trong “ngũ mỹ” (5 nghệ sĩ tuồng tài hoa) xứ Quảng.

Chuyện rằng, trước năm 1930, có lần cụ Đội Tảo ra diễn ở Huế. Gánh hát chỉ có một đào một kép giỏi nghề (vợ chồng cụ Đội Tảo), còn lại là những diễn viên kỳ nghệ bình thường nên không lôi cuốn khán giả sành điệu của đất thần kinh. Vắng khách, không thể diễn tiếp ở Huế mà cũng không đủ tiền mua vé tàu quay về lại Quảng Nam, cụ Đội Tảo đành nghĩ đến nước cờ cuối: cậy nhờ thầy Đội Em đóng vai nào đó để lôi kéo khán giả.

Đội Em là nghệ sĩ bậc thầy của tuồng cung đình Huế, lúc đó đã giải nghệ. Được nhờ “cứu bồ”, cụ chọn vở diễn với nhân vật Trương Ngáo nên phải cạo bộ râu dài và đẹp. Vợ con ngăn cản ý định cạo râu, ngay cụ Đội Tảo cũng gợi ý chọn vở khác, nhưng cụ Đội Em giữ nguyên ý định để giúp đồng nghiệp học trò và đáp lại thịnh tình của khán giả đế đô...

Với dòng quảng cáo “Tối nay, diễn vở Trương Ngáo với sự tham gia của Đội Em”, khách đến chật rạp, tiền thu được không những đủ cho cụ Đội Tảo mua vé tàu, phát lương cho diễn viên mà còn dư chút ít để tiêu. Giai thoại này được kể lại trong cuốn “Tuồng Quảng Nam” do Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Nam ấn hành năm 2001.

Mồ hôi và nước mắt

Trong các gánh tuồng ở Quảng Nam cũ, Đoàn tuồng Quảng Nam - Đà Nẵng (tiền thân của Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh) được nhắc đến với vị trí đặc biệt. Các nghệ sĩ từng trải qua những năm chiến tranh gian khổ, bước hẳn ra khỏi không gian chất hẹp của sân khấu để trở thành người chiến sĩ thực sự.

2.jpg
Sau tấm màn nhung, giới nghệ sĩ vất vả tập luyện và lo toan chuyện mưu sinh. Ảnh: THUẬN TRIỀU

Suốt mùa đông năm 1969, thời điểm đoàn tuồng ở khu căn cứ Nước Oa (Trà My cũ) để dựng vở “Lam Sơn khởi nghĩa” của nhà soạn tuồng Tống Phước Phổ, cả thầy lẫn trò đều ăn đói chịu rét, lương thực chủ yếu là món lá sắn luộc. Khi Quảng Nam - Đà Nẵng giải phóng, đoàn xuống biểu diễn ở Tiên Phước, Tam Kỳ, Hội An rồi vào Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. Các nghệ sĩ cũng theo gót chân các chiến sĩ Giải phóng quân cho đến hết chiến dịch Hồ Chí Minh.

Nhân nhắc đến tác phẩm của nhà soạn tuồng Tống Phước Phổ, có câu chuyện “ứng phó” mật thám. Từ cuối năm 1943, vì thường diễn những vở có tư tưởng tiến bộ, gánh Tân Thành Ban bị mật thám Pháp cấm diễn 1 tháng, ông Nguyễn Lai (chủ gánh hát) bị gọi lên chất vấn nhiều lần.

Tình thế buộc ông phải gom góp vốn liếng, tiền của dành dụm để mang đi lo lót thì chúng mới chịu tha. Riêng giai thoại đối phó mật thám của gánh Tân Thành Ban diễn ra trước đó ít tháng, từ đầu năm 1943, liên quan vở mới “Cờ trắng rừng xanh” của nhà soạn tuồng Tống Phước Phổ.

Thời điểm đó, những vở mới sáng tác của Tống Phước Phổ bị kiểm duyệt gắt gao, và “Cờ trắng rừng xanh” (dựa theo tiểu thuyết của Lan Khai) cũng không ngoại lệ. Vở tuồng bị kiểm duyệt gạch bỏ gần hết, tựa “Cờ trắng rừng xanh” cũng bị sửa thành “Cờ đỏ rừng xanh”.

Dù bị kiểm duyệt, các nghệ sĩ không nao núng, thậm chí quyết định… diễn đúng như kịch bản cũ, không chịu bỏ đoạn nào. Để an toàn, gánh hát bố trí người gác ở trước cửa rạp, hễ thấy động là báo ngay.

Người “gác cửa” tên Phong, vốn là thủ môn đội bóng Sport Tourane. Đội bóng này do tên chánh mật thám ở Đà Nẵng làm ông bầu, cho nên thủ môn Phong quen mặt những tên mật thám. Đêm diễn đầu tiên ra mắt khán giả Đà Nẵng, khi đến đoạn nghĩa quân hành binh thì có tin báo mật thám đến. Trên sân khấu, diễn viên vẫn hát bài hành binh cũ, nhưng nhanh trí… bỏ hết dấu, hát lơ lớ kiểu giọng người miền Thượng để mật thám không nhận ra.

“Đời thường” ấy đang đeo đẳng giới nghệ sĩ bây giờ, như một cái nghiệp. Sẽ lại đi qua những lo toan, những vụn vặt đời thường để cháy dưới ánh đèn sân khấu…

(0) Bình luận
x
Nổi bật
Mới nhất
Sau tấm màn nhung, có những đời thường
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO