ĐNCT - Sông Côn mùa lũ (NXB Phụ nữ Việt Nam tái bản trọn bộ 3 tập vào năm 2026) lấy Nguyễn Huệ và phong trào Tây Sơn làm trung tâm, nhưng vượt lên trên một tiểu thuyết lịch sử về người anh hùng, tác phẩm còn là bức tranh rộng lớn về số phận con người Việt Nam trong ba thập niên cuối thế kỷ XVIII - giai đoạn đầy biến động của lịch sử phong kiến Việt Nam.

Sông Côn là dòng sông chảy qua vùng đất Tây Sơn - quê hương của người anh hùng Nguyễn Huệ, đồng thời cũng là quê hương của nhà văn Nguyễn Mộng Giác. Có lẽ bởi vậy, hình ảnh dòng sông trở thành một biểu tượng xuyên suốt tác phẩm. Tiểu thuyết mở đầu bằng một dòng sông, khi gia đình giáo Hiến dắt díu nhau đi trốn, và khép lại cũng bên một dòng sông - nơi dừng chân của mẹ con An. Giữa hai bờ sông ấy là dòng chảy số phận của từng con người, hòa trong dòng chảy dữ dội của lịch sử dân tộc.
Cuối thế kỷ XVIII, những cuộc tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến liên tiếp diễn ra. Trong bối cảnh ấy, phong trào Tây Sơn nổi lên, lần lượt đánh bại các thế lực Nguyễn, Trịnh, Lê, đánh đuổi quân Xiêm La và quân Thanh, từng bước đi đến thống nhất đất nước.
Những biến động lớn lao ấy được Nguyễn Mộng Giác tái hiện không chỉ qua những chiến công của các nhân vật lịch sử mà còn qua những mưu toan, suy tư và dằn vặt rất đỗi đời thường. Trong đó, bằng việc gia tăng yếu tố đời tư và đi sâu vào thế giới nội tâm, nhà văn xây dựng một Nguyễn Huệ luôn ý thức về trách nhiệm của cá nhân trước dân tộc và lịch sử.
Tuy nhiên, sức hấp dẫn của tác phẩm không chỉ nằm ở hình tượng Nguyễn Huệ. Nổi chìm trong gần 2.000 trang sách là số phận của những con người bình thường bị cuốn vào vòng xoáy thời cuộc.
Những trai tráng phải rời việc cầm cuốc, cầm cày để cầm gươm ra trận. Những người phụ nữ nông dân một đời gồng gánh, tảo tần và hy sinh cho gia đình. Trong số đó, An là nhân vật nổi bật, đồng thời cũng là một trong những điểm tực quan trọng để tác phẩm mở rộng cái nhìn từ lịch sử của những người anh hùng sang lịch sử của những con người vô danh. Qua họ, đời sống xã hội thời loạn hiện lên từ cách ăn, cách ở, lời ăn tiếng nói cho đến những mất mát, chia lìa và những bể dâu mà mỗi gia đình phải gánh chịu.
Đặc biệt, tác phẩm dành nhiều trang viết đầy ám ảnh cho tầng lớp trí thức đương thời. Những người quyết giữ lấy cái “chữ ‘Trung’ méo mó”, như cách Nguyễn Huệ gọi, đã phải đánh đổi bằng cả cuộc đời, thậm chí mạng sống. Trong khi đó, những kẻ sĩ thức thời như Ngô Thì Nhậm, Trần Văn Kỷ, Phan Huy Ích, Nguyễn Thiếp... lựa chọn hòa mình vào thời cuộc nhưng không phải không có những trăn trở, giằng co. Nguyễn Mộng Giác để các nhân vật trí thức trực tiếp bày tỏ quan điểm về thời thế qua những cuộc đối thoại giàu sức gợi. Từ một tác phẩm văn học, nhà văn mở ra trước người đọc cả một thế giới lịch sử, văn hóa và tinh thần của một thời đại.
Không thể không dành sự trân trọng cho sự công phu của Nguyễn Mộng Giác khi viết Sông Côn mùa lũ. Ông dành 5 năm, từ 1977 đến 1981, để hoàn thành tác phẩm trong giai đoạn bản thân gặp nhiều biến động. Danh mục tài liệu tham khảo hơn 40 cuốn cho thấy sự chuẩn bị nghiêm túc. Nhiều văn bản quan trọng được khéo léo trích dẫn hoặc mượn ý để xây dựng cốt truyện, góp phần tạo nên nền tảng lịch sử vững chắc cho tác phẩm.
Khối lượng nhân vật và sự kiện dày đặc nhưng được tổ chức tương đối lớp lang, mạch lạc. Hành văn dung dị, tự nhiên mà cuốn hút, khiến một tiểu thuyết lịch sử đồ sộ vẫn có khả năng giữ chân người đọc qua những câu chuyện rất đời.
Dù vậy, khi khép lại tác phẩm, vẫn không khỏi có đôi chút tiếc nuối.
Một trong những điểm đáng được chờ đợi ở tác phẩm là khả năng khắc họa sâu hơn những trận chiến oai hùng của Nguyễn Huệ. Tuy nhiên, các chiến dịch quân sự nhiều khi chỉ được kể khá sơ lược, thậm chí qua những ghi chép vội vã của nhân vật Lãng. Cuộc hành quân thần tốc từ Phú Xuân ra Bắc - một trong những chiến công đặc biệt của Nguyễn Huệ - rốt cuộc chỉ được gói gọn trong một dòng. Một số chuyển biến tâm lý và thái độ của nhân vật ở những phần sau cũng diễn ra khá đột ngột, chưa được lý giải tương xứng.
Chẳng hạn, vua Thái Đức từ chỗ đặc biệt ưu ái Nguyễn Hữu Chỉnh lại nhanh chóng quay sang đẩy Chỉnh đến chỗ chết; cái chết ấy cũng không được miêu tả cụ thể. Những đoạn viết về La Sơn Phu Tử cũng tạo cảm giác được xử lý khá vội.
Cái chết của Lãng cũng hư ảo, mong manh như chính cuộc đời và cái tên của anh. Anh mất tích khi lên núi tìm một loài lan quý. Đó là một kết thúc buồn, nhưng đồng thời cũng có thể xem như một sự giải thoát, hay một niềm an ủi cuối cùng dành cho chàng trai đa sầu đa cảm.
Đặc biệt đáng chú ý là lời Kiên khi chứng kiến cái chết của Đông Định Vương Nguyễn Lữ: “Việc quan trọng hơn hết thảy mọi điều, cao cả hơn mọi người, ấy là đã sống đúng với bản tính Trời cho, và đã hết sức cố gắng. Những điều khác đều là thừa thãi cả”. Đây cũng có thể xem là một trong những thông điệp đẹp mà tác phẩm gợi ra. Mục đích của đời người có lẽ không gì khác hơn là được sống đúng với mình, giữ cho được một tấm lòng ngay thẳng, trung trinh ngay cả khi thời thế đổi thay và tao loạn.
Và sau cùng, chỉ còn lại An - người phụ nữ đi trọn từ đầu đến cuối tác phẩm. Có lẽ đó cũng là ý nghĩa sâu xa nhất của hình tượng dòng sông trong Sông Côn mùa lũ: lịch sử luôn cuộn chảy, cuốn theo những triều đại, những chiến công và những con người. Nhưng bên dưới dòng chảy dữ dội ấy vẫn là những phận người âm thầm tồn tại, yêu thương và tiếp nối.