ĐNO - Có những người khi rời cõi tạm, họ để lại phía sau không chỉ một khoảng trống, mà cả một con đường. Nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ là một người như thế. Hơn nửa thế kỷ gắn bó với văn chương, giáo dục và quê hương, anh đã sống một cuộc đời nhiều trải nghiệm, nhiều cống hiến và cũng nhiều rung động.
.jpg)
Nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ (sinh ngày 18/8/1956, quê quán khối phố Bàn Thạch, phường Hương Trà, TP.Đà Nẵng) đã “về với nước Chúa” lúc 4h00 ngày 01/9/2026, hưởng thọ 70 tuổi. Anh ra đi để lại bao tiếc thương trong lòng người thân, văn nghệ sĩ, bạn bè, đồng nghiệp, cùng bao thế hệ học trò và bạn đọc… Thơ anh gắn liền với dấu chân của người lính, của người thầy và một văn nghệ sĩ đau đáu phận đời nhưng rất đỗi bao dung, yêu thương cuộc đời này.
Nguyễn Tấn Sĩ làm thơ từ rất sớm. Khi đang còn học lớp 6, anh đã có bài đăng trên báo Thằng Bờm. Từ lớp 10, anh có thơ in thường xuyên trên các tờ Tuổi Ngọc, Thời Tập, Bách Khoa... Năm 1977, tốt nghiệp ngành sư phạm tại Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Tấn Sĩ về dạy học ở Xuyên Mộc (Đồng Nai). Thời điểm ấy, biên giới Tây Nam nóng bỏng với sự gây hấn của tập đoàn Pol Pot.
Ngay khi lệnh tổng động viên được ban bố, nhà giáo trẻ Nguyễn Tấn Sĩ cùng 16 đồng nghiệp ở trường tự nguyện xung phong nhập ngũ. Đó chính là bước ngoặt lớn, tôi luyện nên chất lính kiên cường và để lại dấu ấn sâu sắc trong cuộc đời cũng như thơ ca của nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ. Sự dung hòa độc đáo của khói lửa chiến trường K kết hợp với mô phạm của nhà giáo đã tạo nên một Nguyễn Tấn Sĩ bền bỉ, kiên cường của người lính nhưng vẫn giữ được sự mực thước, đa cảm và lãng mạn của một nhà thơ.

Trên bục giảng, nhà thơ - nhà giáo Nguyễn Tấn Sĩ là một nhà giáo nghiêm túc nhưng gần gũi, được đồng nghiệp và học trò quý mến. Qua những ngôi trường THCS ở Tam Kỳ, từ Nguyễn Du, Nguyễn Huệ đến Lý Tự Trọng, dấu chân người thầy không chỉ nằm trong những thành tích giáo dục, mà còn trong ký ức của bao thế hệ học trò.
Nhưng Nguyễn Tấn Sĩ không chỉ có một con người của phấn trắng, bảng đen. Trong anh còn có người lính từng đi qua chiến tranh và một thi sĩ luôn mang theo trong mình những thao thức về quê hương, con người, ký ức. Chính vì thế, thơ anh có khi đau đáu như những câu thơ về thân phận, có khi thăm thẳm nỗi nhớ khôn nguôi, lại có lúc trở về rất đỗi dịu dàng với Tam Kỳ, Trường Giang, những miền quê thân thuộc…
Đặc biệt, càng về sau, thơ Nguyễn Tấn Sĩ càng tìm về lục bát - như tìm về một mạch nguồn dân tộc, một cách nói giản dị mà sâu xa. Những câu thơ “về” trong thơ ông cũng chính là những cuộc trở về với quê nhà, với ký ức, với chính mình.
Nguyễn Tấn Sĩ là tác giả của các tập thơ Mặt trời và cơn khát (1981), Lời hát khẽ (2003), Màu rêu lục bát (2013) và Gió ba sông (2017). Nếu ở tập thơ đầu Mặt trời và con khát mang một phong cách rất "nóng" và riết róng, mang không khí hào hùng, trực diện, chứa đựng những câu chữ trăn trở, day dứt về chiến tranh, những người lính và ký ức thời cuộc thì tập thơ thứ hai Lời hát khẽ mang giai điệu nhẹ nhàng và kín đáo hơn. Đó là những cuộc tìm về lặng lẽ, tiếng thở dài xót xa trước thời gian, tình yêu và những hoài niệm cũ.
Còn Màu rêu lục bát là tập thơ tập trung sâu vào thể thơ truyền thống - lục bát thấm đẫm hồn quê, dịu ngọt nhưng ẩn chứa chiều sâu của một người thầy, một người lính đã đi qua nhiều thăng trầm.
Trên Báo Quảng Nam số ra ngày 21/11/2015, Phan Chí Anh có bài viết “Cùng Nguyễn Tấn Sĩ về miền lục bát”, nhận xét: “Tuổi tác đang nhuốm sắc chiều lên gương mặt nhà thơ - nhà giáo Nguyễn Tấn Sĩ. Và thơ anh cũng từng ngày đằm sâu hơn với thể thơ “cổ điển” đằm sâu lục bát. Thế nhưng, giữa những buồn - vui - được - mất - nhớ - quên…, đâu đó thơ anh vẫn đang lặng lẽ cùng anh tiếp tục những cuộc lãng du bất định nhưng đầy cuốn hút…”.

Với hơn 100 bài thơ trong tập Gió ba sông, bạn đọc đồng cảm với Nguyễn Tấn Sĩ từ tiếng gọi thôi thúc của chốn quê nhà, viết riêng về những dòng sông Tam Kỳ, Bàn Thạch, Trường Giang và viết riêng về mảnh đất và con người xứ Quảng đầy ân tình và dạt dào cảm xúc: “Ôi dòng nước đã từ lâu/ Xoãi tay ôm những vui sầu thời gian (Ba sông). Để rồi nỗi nhớ chỉ còn vọng theo gió, theo những năm tháng lở bồi vẫn lặng thầm chảy mãi trong lòng mỗi đứa con: “Nỗi nhớ làm gió thổi phía ba sông/ Con trở về xin lạy với mênh mông (Vọng theo lời gió).
Bạn bè của nhà thơ - nhà giáo Nguyễn Tấn Sĩ hay nói vui, ở đâu có Nguyễn Tấn Sĩ là ở đó… có thơ! Câu nói vui mà đúng, vì đúng nên hay. Đó là một Nguyễn Tấn Sĩ làm thơ rất nhanh, 5 phút đã có bài thơ. Thời làm lãnh đạo tại các trường học, anh thường xuyên tổ chức các đêm thơ nhạc vào các dịp 8/3, 20/10, 20/11, mừng Đảng đón xuân… Những dịp như thế đã kết nối đồng nghiệp với đồng nghiệp, đồng nghiệp với văn nghệ sĩ và kết nối với người yêu thơ, tạo ra “sân chơi” mới cho thầy cô, học trò.

Với thơ ca, anh là nhà thơ tài năng, cần mẫn. Anh là người cẩn trọng và nâng đỡ tài năng thơ ca khi làm biên tập viên nhiều năm của Tạp chí Đất Quảng, Phó Chủ tịch Hội Văn học - Nghệ thuật Tam Kỳ. Anh còn là Trưởng nhóm Gia đình Áo trắng (tập san Áo trắng) ở Quảng Nam làm nhịp cầu văn chương của thế hệ tuổi ngọc.
Nhiều cây bút tham gia Áo trắng ở Quảng Nam qua “kết nối” của anh nay ít nhiều thành danh trên văn đàn… Năm 1982, tác phẩm “Bài thơ về cô giáo Tam Dân” của anh được tặng Giải thưởng Văn học Quảng Nam - Đà Nẵng. Năm 1985, bài thơ “Mẹ của Trần Văn Tẩm” của anh đoạt Giải A - Tạp chí Văn nghệ Quân đội, cùng nhiều giải thưởng về thơ.
“Con đường cát lấm bụi quê/ Dẫn ta về cõi không về nữa đâu” (Cát bụi con đường). Có lẽ hôm nay, câu thơ ấy trở thành lời tiễn biệt dành cho nhà thơ - nhà giáo Nguyễn Tấn Sĩ. Chân anh đã dừng bước, nhưng con đường anh đi vẫn còn trong mái trường, trong học trò, trong những trang thơ và trong ký ức của bạn bè văn nghệ.
Xin tiễn anh về miền xa ấy - nơi “cõi không về nữa đâu” của câu thơ năm nào. Nhưng người làm thơ có một cách khác để ở lại: ở lại bằng câu chữ. Và người thầy có một cách khác để tiếp tục: ở lại trong những thế hệ học trò.
Anh đi rồi, Tam Kỳ vẫn xanh, Trường Giang vẫn chảy, mùa hoa sưa vẫn vàng. Và, từ hôm nay, mỗi lần đọc lại thơ anh, sẽ lặng người nhận ra một người vừa đi qua đời mình, mà đã kịp để lại cả một con đường.