Chắc nhiều độc giả vẫn còn nhớ, cách đây hơn hai mươi năm, “hiện tượng” Nguyễn Ngọc Tư “bừng lên” lần đầu là trên báo.

Truyện được đăng trên báo, thu hút dư luận, những bài phân tích, phê bình, trao đổi được đăng đồng thời. Dù thời điểm đó mạng xã hội vẫn chưa phổ dụng như bây giờ nhưng không khí văn học lại vô cùng sôi nổi. Phần còn lại là lịch sử.
Ngày nay, một hiện tượng như Nguyễn Ngọc Tư khó lòng lặp lại. Bởi, không gian dành cho văn chương đã khác trước. Văn chương vẫn tìm được “đất” trên những trang báo nhưng “đất” đó cũng đang thu hẹp dần theo các đầu báo.
Báo chí (kể cả những tờ không chuyên về văn chương) từng có thời là sân khấu ra mắt lý tưởng cho các tác giả. Một truyện ngắn, một bài thơ, một bút ký đăng được trên một tờ phát hành vài ngàn mỗi số đã là thành tựu.
Thậm chí tiểu thuyết trong một thời gian dài cũng tìm được chỗ đứng trên báo in nhờ hình thức feuilleton, hiểu nôm na là tiểu thuyết đăng nhiều kỳ. Các kỳ báo này sau đó có thể được in thành sách như một hình thức tổng kết hoặc “kéo dài đời sống” của các tiểu thuyết.
Đây là hình thức không xa lạ trên thế giới. Trong lời bạt của tiểu thuyết Cố đô, nhà văn đoạt giải Nobel Văn chương Kawabata Yasunari từng chia sẻ: “Cố đô được đăng 107 kỳ liên tiếp trên tờ báo Asahi Shimbun từ ngày 8 tháng 10 năm 1961 (năm Chiêu Hòa thứ 36) đến ngày 23 tháng 1 năm 1962 (năm Chiêu Hòa thứ 37).”
Có một truyền thuyết nổi tiếng trong lĩnh vực feuilleton chính là chuyện Kim Dung viết Thiên long bát bộ đăng báo, nhưng nửa chừng thì có việc bận nên nhờ bạn ông, cũng là một nhà văn có tiếng đất Hương Cảng là Nghê Khuông (?) viết thay vài kỳ. Khi Kim Dung nhận lại “đứa con” của mình sau thời gian “thất lạc” thì hỡi ơi Nghê Khuông đã cho nàng A Tử của ông mù mắt.
Chính truyện chưởng đã tạo ra một thời kỳ cực thịnh của feuilleton ở miền Nam Việt Nam trước đây. Ở đó, nổi lên dịch giả Hàn Giang Nhạn như một cao thủ dịch truyện chưởng của thời đó. Lúc mà công nghệ còn chưa phát triển, thiên hạ vẫn còn cách núi ngăn sông, vậy mà các truyện chưởng đăng feuilleton ở Việt Nam đã cố gắng cập nhật nhanh nhất có thể các truyện chưởng đăng báo của Kim Dung để đáp ứng nhu cầu bạn đọc.
Ích lợi của feuilleton ở chỗ vào thời điểm đó, đây là hình thức mà bạn đọc có thể tham gia nhanh chóng nhất vào công việc tạo ra tác phẩm thông qua những phản hồi đến tòa soạn. Từ đó mà nhà văn có thể điều chỉnh cho phù hợp với độ quan tâm của độc giả. Chính tòa soạn cũng có thể tham gia vào công việc sáng tác từ việc đặt hàng tác phẩm.
Dẫn riêng trường hợp feuilleton để thấy đã có một thời văn chương và báo chí gắn bó mật thiết với nhau. Mối duyên này cũng đã kết thâm giao giữa các tòa soạn với các nhà xuất bản. Tòa soạn trở thành nơi đãi cát tìm vàng ban đầu cho các nhà xuất bản. Các tờ báo cũng đóng vai trò truyền thông cho tác giả, tác phẩm ngay từ khi tác phẩm chưa in thành sách.

Mô hình tập đoàn xuất bản gồm tòa soạn báo - nhà xuất bản - nhà in, không phải là chuyện gì bất khả hay mới đây mới có.
Vào những thập niên 1930-1940 ở số 80 phố Quán Thánh, Hà Nội đã đặt trụ sở chính của nhà in và nhà xuất bản Đời Nay của bút nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Đây cũng là nơi đặt tòa soạn báo Phong Hóa và Ngày Nay. Từ đây biết bao tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ, Thạch Lam, Xuân Diệu… đã được đăng tải, in ấn và phát hành.
Mô hình này vẫn được duy trì mạnh mẽ ở Nhật Bản, gắn liền với nền công nghiệp manga của đất nước này, nơi các truyện tranh được đăng tải nhiều kỳ trên các tạp chí trước khi được xuất bản thành sách. Ở Nhật Bản, các tập đoàn xuất bản như Hitotsubashi bao gồm các công ty Shõgakukan, Shueisha và Hakusensha với các ấn phẩm, tạp chí, truyện tranh, từ điển, sách văn học… gần như chi phối cả ngành công nghiệp truyện tranh của đất nước này.
Cũng tại Nhật Bản, gần đây chứng kiến sự trở lại của các ấn phẩm tạp chí thủ công hay còn được gọi là zine. Sự trở lại đầy hoài niệm, chân thực, nhằm đề kháng lại nền văn hóa tiêu thụ ngày càng nhiều sản phẩm nghe - nhìn cũng như nội dung do trí tuệ nhân tạo làm ra.
Riêng ở Việt Nam, dù báo chí đang theo xu hướng sáp nhập và tinh giản, không phải không còn cơ hội cho các tạp chí, giai phẩm văn học nghệ thuật gắn liền với các nhà xuất bản hay đơn vị làm sách tư nhân.
Cũng giống như sự ra đời của zine ở Nhật Bản, việc cầm nắm một tờ tạp chí, sờ trang giấy, ngửi được mùi mực là một cách kích thích việc đọc. Chưa kể cảm giác được sở hữu một ấn phẩm cụ thể và mạnh mẽ hơn việc lưu trữ tài liệu trên các thiết bị điện tử.
Công nghệ có thể làm nhiều thứ mai một nhưng không làm chúng biến mất hoàn toàn. Ngày nay, chúng ta vẫn dành sự tôn trọng với những nghệ nhân làm ra các sản phẩm thủ công; chính đặc tính “thủ công” ấy đã làm tôn thêm giá trị các sản phẩm. Ấn phẩm thời buổi này cũng là một dạng thủ công như vậy. Chỉ là chúng ta có đủ bản lĩnh để trở thành nghệ nhân trong chính nghề thủ công của mình hay không?