Hồ sơ - Tư liệu

Từ một tư liệu quý…

VÂN TRÌNH 12/10/2025 08:50

Năm 2002, tình cờ, tôi được ông Võ Xuân Sơn, nguyên Phó Bí thư Huyện ủy Đại Lộc (đã từ trần) cho biết, đang cất giữ một tư liệu quý mà theo ông qua đây có thể hiểu được phần nào một giai đoạn đầy gian khó của đất Quảng sau chiến tranh.

z5535993354737_7f098dc08fffa3bb815b323217ca2275.jpg
Lực lượng vũ trang huyện Đại Lộc tổ chức Chiến dịch “Phá gỡ bom mìn” trong các năm 1975 - 1976. Ảnh: Tư liệu.

… Cẩn thận lần giở túi nilon đựng giấy tờ cá nhân, ông Võ Xuân Sơn đặt trước mặt tôi hai “Biên lai giao, nhận tiền”. Nội dung biên bản thứ nhất như sau:

Cộng hòa miền Nam Việt Nam

Độc lập - Dân chủ - Hòa bình - Trung lập

Biên bản giao nhận tiền

Hôm nay, ngày 21/9/1975, thi hành Lệnh xuất kho số 05 ngày 19/9/1975 của Chi nhánh Ngân hàng tỉnh Quảng Đà, chúng tôi gồm có:

1. Bên giao: Hà Thái Diên

Cán bộ Ngân hàng tỉnh Quảng Đà

2. Bên nhận: Võ Xuân Sơn

Phó Chủ tịch UBND Cách mạng huyện Đại Lộc.

Hai bên đã giao, nhận số tiền Ngân hàng Việt Nam là 3.404.800 đồng

(Ba triệu bốn trăm lẻ bốn ngàn tám trăm đồng)

Gồm các loại bạc chi tiết dưới đây:

…………

Phương pháp giao nhận: Giao bó đóng gói niêm phong. Số tiền giao nhận trên đây được đóng gói từ Đà Nẵng đến huyện Đại Lộc.

Biên bản thứ hai cũng là biên bản giao, nhận tiền ghi ngày 29/9/1975 với nội dung: Ông Võ Xuân Sơn, Phó Chủ tịch UBND Cách mạng huyện Đại Lộc bàn giao lại cho ông Hà Thái Diên, cán bộ ngân hàng tỉnh Quảng Đà số tiền Ngân hàng Việt Nam là 2.229.295,7 đồng (Hai triệu hai trăm hai mươi chín ngàn hai trăm chín lăm ngàn đồng bảy hào).

Sẽ là khó hiểu đối với lớp hậu sinh như tôi nếu ông Võ Xuân Sơn không “giải mã” hai biên bản tưởng chừng như không có gì đặc biệt này.

Đã ở vào lớp tuổi “cổ lai hy”, song năm ấy (2002) trí nhớ của ông Sơn vẫn chưa hề suy giảm. Ông chậm rãi kể: “… Tháng 9/1975, tôi đương là Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Phó Chủ tịch UBND Cách mạng huyện Đại Lộc, được giao nhiệm vụ làm Trưởng Ban Chỉ đạo đổi tiền của huyện (từ tiền của chế độ Sài Gòn sang tiền Ngân hàng Việt Nam). Lúc bấy giờ 500 đồng tiền cũ được đổi 1 đồng tiền mới.

Trên chuyển xuống cho huyện Đại Lộc 3.404.800 đồng tiền mới do anh Hà Thái Diên, cán bộ Ngân hàng tỉnh Quảng Đà bàn giao cho tôi. Cả huyện làm tốt công tác đổi tiền theo chỉ đạo của tỉnh. Thế nhưng, sau khi đổi xong, số tiền Ngân hàng Việt Nam còn thừa tới 2.229.295,7 đồng. Như thế, nhân dân toàn huyện (kể cả khách vãng lai) chỉ đổi được 1.105.504,3 đồng. Mà anh biết đó, dân số cả huyện Đại Lộc lúc bấy giờ chỉ trên dưới một trăm ngàn người. Vị chi mỗi người dân chỉ có 11 đồng tiền mới. Một con số cho thấy dân ta sống mấy chục năm dưới chế độ cũ quá nghèo khổ…”.

Dòng hồi tưởng của ông Võ Xuân Sơn đưa chúng tôi về với những năm tháng khó khăn nhất ngay sau ngày Đại Lộc vừa hoàn toàn giải phóng.

… Bước ra khỏi cuộc chiến tranh dài đằng đẵng suốt 21 năm trời, Đại Lộc cũng như nhiều nơi khác ở đất Quảng phải gánh chịu hậu quả khá nặng nề. Trong số 128 thôn của huyện thì có tới 116 thôn bị tàn phá, 12 thôn chỉ còn lại lỗ chỗ màu xanh. Vốn là vùng dâu tằm trù phú là thế, nhưng sau ngày giải phóng đi khắp nơi có mỏi mắt cũng không tìm được rễ dâu để làm thuốc. Đói, đau là nỗi lo lớn của chính quyền trong việc ổn định đời sống nhân dân.

Vạn sự khởi đầu nan. Lãnh đạo huyện Đại Lộc quyết tâm mở Chiến dịch “Phá gỡ bom mìn. Chỉ tính từ tháng 4/1975 đến cuối năm 1976, quân dân toàn huyện đã tháo gỡ 2.244 quả mìn các loại. Song, cái giá phải trả không nhỏ: 189 người hy sinh và hơn 300 người bị thương tật suốt đời.

Tiếp sau Chiến dịch “Phá gỡ bom mìn”, Đại Lộc lại phát động phong trào “Tiến công đồng cỏ”. Phong trào này do ông Võ Xuân Sơn làm Trưởng Ban Chỉ đạo. Kết thúc phong trào, diện tích đất canh tác toàn huyện từ chỗ chỉ có 3.700 hecta (cả lúa và màu) lúc vừa giải phóng đã tăng lên gần 10 ngàn hec-ta. Một kỷ lục đáng nể!

Không dừng lại ở đó, khi vụ Đông Xuân 1975 - 1976 đang thu hoạch, Ban Thường vụ Huyện ủy đã chỉ đạo chuẩn bị cho vụ Hè Thu, nhổ mạ cấy vụ lúa tháng 5 (âm lịch). Đây là chủ trương mới, bởi từ trước đến nay Đại Lộc chưa hề làm vụ lúa Xuân Hè bao giờ. Nhân dân, thậm chí cả cán bộ, lúc đầu chưa thật đồng tình với chủ trương này, cho rằng lúa Xuân Hè trổ vào tháng 7 âm lịch, lúc “gió nôm thổi kiệt ban ngày” thì coi như “cắt rạ bỏ bờ”…

Thế nhưng, lãnh đạo huyện vẫn kiên định lập trường, phân công cán bộ về đứng chân ở từng địa bàn để vận động nhân dân và hỗ trợ các địa phương lên phương án sản xuất vụ Xuân Hè. Kết quả ngoài sức tưởng tượng: năng suất vụ Xuân Hè năm ấy đạt đến 45 tạ/hecta. Nông dân phấn khởi cho rằng, “lúa này là lúa của Đảng, của cách mạng”. Cái đói dần dần bị đẩy lùi…

Chúng tôi muốn lan man một chút để độc giả hiểu thêm về những năm tháng gian lao nhưng không kém phần hào hùng cách đây tròn nửa thế kỷ ở đất Quảng, nhất là hiểu rõ ý nghĩa và giá trị tư liệu mà ông Võ Xuân Sơn cung cấp. Qua “giải mã” của ông, những con số trong các “Biên bản giao, nhận tiền” trở thành những “con số biết nói”. Chúng như muốn nhắn nhủ lớp trẻ hôm nay và con cháu mai sau rằng: Cuộc sống không ngừng đi lên và ngày càng tốt đẹp hơn. Quá khứ lùi dần vào dĩ vãng.

Song, nếu không hiểu được cha ông ta đã sống và cống hiến như thế nào, đặc biệt là trong quãng gian nan của đất nước và quê hương sau chiến tranh thì thật không phải chút nào. Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay, càng hạnh phúc, càng phải nhớ lúc “đói cơm, lạt mắm” để mà tự tin, vững vàng tiến về phía trước!

(0) Bình luận
x
Nổi bật
Mới nhất
Từ một tư liệu quý…
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO