Ngày mai 25/6, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức tọa đàm khoa học “Văn hóa làng xứ Quảng” - Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị trong kỷ nguyên mới”. Trong tiến trình lịch sử của dân tộc, làng là một trong những thiết chế tồn tại bền bỉ nhất.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Pháp tại Đông Dương, cho đến năm 1943 toàn tỉnh Quảng Nam (cũ) đã có 1.065 làng xã. Chính văn hóa làng xã là thành tố quan trọng tạo dựng nên “chân dung” văn hóa xứ Quảng. Vì vậy, muốn tìm hiểu bản sắc văn hóa xứ Quảng, trước hết phải từ văn hóa làng.
Làng là cái nôi văn hóa cho mỗi cá nhân. Bản hương ước làng Thái Lai (nay thuộc xã Bà Nà) ngay phần mở đầu đã nói rõ mục đích là “nêu lên những điều cần kíp, nhằm giữ đúng phong tục cổ truyền của người xưa, để lưu lại cho các lớp con cháu đời sau, ngõ hầu giữ được khuôn phép, tỏ ra là những người có nếp sống văn hóa, tiếp thu những thuần phong mỹ tục của tiền nhân và tẩy sạch những thói hư tật xấu trong mối giao tiếp hàng ngày”.
Văn hóa làng nhắc nhở mỗi người sống có đạo đức, có tinh thần trách nhiệm, thuận hòa, tương trợ trong cộng đồng với tinh thần “Tối lửa tắt đèn có nhau”, cũng như nhắc nhở đặt ý thức trách nhiệm với làng trong mối quan hệ với nước: “Thương yêu đùm bọc trước sau/ Cùng trong Đại Việt chung nhau cơ đồ”.
Làng xã là môi trường hun đúc nên con người xứ Quảng biết thích nghi với mọi hoàn cảnh tự nhiên. Dân làng biển biết theo dõi các hiện tượng tự nhiên để “ra khơi vào lộng”, biết đào hầm tránh trú trước khi bão lớn kéo vào. Dân làng thuần nông biết phân loại thổ nhưỡng để canh tác. Dân làng miền nguồn biết dựa vào địa hình tự nhiên để lập vườn, dùng vật liệu có sẵn trong tự nhiên để xây dựng (như chúng ta vẫn thấy những ngõ đá, giếng đá ở vùng trung du Tiên Phước); biết tùy theo nguồn nguyên liệu có sẵn ở mỗi địa phương để chế biến đa dạng món ăn, thức uống.
Làng quê xứ Quảng sản sinh và lưu giữ kho tàng văn nghệ dân gian phong phú, với nhiều thể loại như tục ngữ, ca dao, dân ca, hò vè, câu đố, chuyện kể.
Nơi đây cũng là không gian văn hóa tâm linh, với hoạt động tín ngưỡng trong gia đình, dòng họ và các lễ tiết truyền thống trong năm (Nguyên đán, Thanh minh, Đoan Ngọ...) ở các nhà thờ tộc, đình, chùa, miếu mạo.
Làng quê xứ Quảng có nhiều lễ hội liên quan đến sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, các tổ ngành nghề; các vị tiền hiền, hậu hiền. Các lễ hội truyền thống này chứa đựng nhiều giá trị văn hóa tâm linh, đạo đức, giáo dục, lịch sử, văn hóa truyền thống, giải trí, cố kết cộng đồng, và cả giá trị về kinh tế.
Đây cũng là nơi sản sinh cả một gia tài văn hóa vật thể. Đó là cảnh quan của các làng quê người Việt và của đồng bào dân tộc thiểu số; là những đình, chùa, nhà thờ tộc, lăng, miếu, nhà cổ, bia đá của người Việt có giá trị kiến trúc, thẩm mỹ và lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, lịch sử, hay những ngôi nhà cộng đồng truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số thể hiện tư tưởng thẩm mỹ, quan niệm sống của cộng đồng dân làng.

Trước những biến đổi của đời sống xã hội, nhất là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, văn hóa làng bị tác động dữ dội; nhiều giá trị truyền thống bị mai một khiến bản sắc văn hóa làng phai mờ.
Điều này đòi hỏi phải nghiên cứu nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa làng, xem đấy là “vốn cổ”, “vốn quý” trong xây dựng đời sống văn hóa của thành phố Đà Nẵng hiện nay.
Theo đó, cần có giải pháp bảo lưu tên làng. Bởi, tên làng không chỉ là tên để gọi mà là một địa chỉ văn hóa, là ký ức, là “hồn cốt” của làng, niềm tự hào của các thành viên sinh ra từ cộng đồng làng.
Có những tên làng là địa chỉ đỏ trong lịch sử anh hùng của dân tộc; có những tên làng gắn liền với thương hiệu về sản phẩm đã xây dựng được qua hàng trăm năm; có những tên làng là địa chỉ hấp dẫn trong bản đồ du lịch...
Cần phát huy thiết chế xã hội truyền thống của làng xã xưa, trong đó, cần quan tâm đến việc phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng (trưởng tộc; người cao tuổi/già làng; trí thức địa phương) và các hội đồng gia tộc trong việc xây dựng đời sống văn hóa, khuyến học, an sinh xã hội của cộng đồng dân cư.
Khai thác, kế thừa giá trị của hương ước, luật tục, những thuần phong mỹ tục của văn hóa làng trong xây dựng quy ước nếp sống mới ở cơ sở. Khôi phục đình làng làm thiết chế tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa của cộng đồng cư dân; khôi phục, phát huy các lễ hội truyền thống. Khuyến khích sưu tầm vốn văn nghệ dân gian, xem đó là những di sản văn hóa làng cần được lưu truyền cho các thế hệ.
Phục hưng các loại hình văn nghệ dân gian (hát hò khoan đối đáp, hát ru, hò vè, các làn điệu dân ca) thông qua các câu lạc bộ văn nghệ; đưa tri thức làng xã vào học đường.
Gắn bảo tồn, phát huy văn hóa làng với phát triển. Đầu tư khôi phục và phát triển những làng nghề truyền thống tạo nên những sản phẩm chất lượng, độc đáo; trùng tu các di tích lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng tiêu biểu và có chiến dịch truyền thông quảng bá thương hiệu sản phẩm của các làng nghề, tổ chức các tour du lịch di sản, du lịch gắn với lễ hội, làng nghề, du lịch làng quê.
Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa làng chính là biết gắn giữ gìn và phát huy “cái vốn” mà các thế hệ tiền nhân tạo dựng suốt mấy trăm năm để lại. Phát huy được cái “vốn cổ”, “vốn quý” này là nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển thành phố Đà Nẵng theo hướng hiện đại, giàu bản sắc.