ĐNO - Báo và phát thanh, truyền hình Đà Nẵng trân trọng giới thiệu toàn văn diễn văn của Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Lê Ngọc Quang tại lễ kỷ niệm 150 năm ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (1/10/1876 - 1/10/2026), chí sĩ yêu nước tiêu biểu, nhà lãnh đạo uy tín, hết lòng vì nước, vì dân.

Kính thưa đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam!
Kính thưa đồng chí Võ Thị Ánh Xuân, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam!
Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; các đồng chí đại diện cho các ban, bộ, ngành Trung ương!
Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo tỉnh Quảng Nam, thành phố Đà Nẵng qua các thời kỳ; lãnh đạo các tỉnh, thành phố bạn!
Kính thưa Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động, quý vị đại biểu, các vị khách quý!
Kính thưa gia tộc cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng toàn thể đồng bào, đồng chí!
Hôm nay, trong không khí trang nghiêm, thành kính và đầy tự hào, thành phố Đà Nẵng long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 150 năm ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (1/10/1876 - 1/10/2026), Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chí sĩ yêu nước, nhà văn hóa lớn, nhà báo tiên phong, nhà lãnh đạo mẫu mực, người con ưu tú của quê hương xứ Quảng.
Đây là dịp để chúng ta tưởng nhớ, tri ân cuộc đời và những cống hiến to lớn của cụ đối với quê hương, đất nước; đồng thời cùng suy ngẫm sâu sắc hơn về những giá trị cụ để lại: đó là lòng yêu nước, khí tiết, tinh thần tự lực tự cường, khát vọng canh tân và một cuộc đời tận tâm phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc.
Nhân dịp trọng thể này, thay mặt lãnh đạo thành phố Đà Nẵng, tôi xin trân trọng gửi tới các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các vị đại biểu, khách quý, gia tộc cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng toàn thể đồng bào, đồng chí lời chào trân trọng, lời chúc sức khỏe, hạnh phúc; chúc lễ kỷ niệm thành công tốt đẹp!
Kính thưa quý vị đại biểu, đồng bào, đồng chí!
Cụ Huỳnh Thúc Kháng - tên gọi thân thương và đầy kính trọng mà các thế hệ người dân vẫn thường gọi là “Cụ Huỳnh” - sinh ra và lớn lên trên mảnh đất xứ Quảng giàu truyền thống yêu nước, hiếu học, trung dũng, kiên cường.
Chính mạch nguồn văn hóa, lịch sử và khí chất của vùng đất này quyện với truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc đã hun đúc nên một Huỳnh Thúc Kháng có trí tuệ, bản lĩnh, khí tiết và một tấm lòng suốt đời đau đáu với vận mệnh Tổ quốc.
Nổi tiếng thông minh, hiếu học: năm 1900, cụ đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương; năm 1904, đỗ đầu kỳ thi Hội và tiếp đó vào thi Đình đỗ Tam giáp Đồng tiến sĩ. Nhưng cụ không lựa chọn con đường quan trường, mà sớm dấn thân vào hoạt động yêu nước, tìm con đường canh tân, cứu dân, cứu nước.
Những năm đầu thế kỷ XX, khi dân tộc đứng trước yêu cầu cấp bách phải tìm con đường cứu nước mới, cụ Huỳnh cùng các chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp đã khởi xướng, vận động Phong trào Duy Tân ở Quảng Nam và nhiều tỉnh miền Trung với tinh thần: “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”.
Cụ đi nhiều nơi, vận động mở trường, dạy chữ Quốc ngữ, truyền bá kiến thức mới, cổ vũ phát triển kinh tế, cải cách đời sống, bài trừ hủ tục; qua đó thức tỉnh tinh thần dân tộc, khơi dậy ý chí tự lực tự cường và khát vọng đổi thay đất nước.
Năm 1908, phong trào bị thực dân Pháp đàn áp, cụ Huỳnh bị bắt, đày ra Nhà tù Côn Đảo. 13 năm tù đày, lao động khổ sai không khuất phục được ý chí của người chí sĩ xứ Quảng. Giữa nơi địa ngục trần gian Côn Đảo, cụ vẫn kiên trì học tập, trui rèn bản lĩnh, trau dồi tư tưởng, giữ vững khí tiết và niềm tin vào tương lai của dân tộc.
Sau khi được trả tự do, trở về mảnh đất miền Trung, cụ tiếp tục con đường phụng sự đất nước bằng những phương thức mới: đấu tranh nghị trường, hoạt động xã hội và đặc biệt là phong trào đấu tranh cho dân sinh, dân chủ, tiến bộ xã hội trên mặt trận báo chí.
Báo Tiếng Dân do cụ sáng lập và làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút suốt 16 năm, từ năm 1927 đến năm 1943, trở thành một diễn đàn có ảnh hưởng to lớn, góp phần khai dân trí, bảo vệ quyền lợi của nhân dân, khơi dậy lòng yêu nước và tinh thần dân tộc.
Cụ Huỳnh không chỉ là một nhà báo quả cảm, mà còn là một nhà sử học uyên bác; những tư liệu lịch sử cụ viện dẫn, đăng tải là nguồn sử liệu có giá trị, góp phần phục vụ công tác nghiên cứu về chủ quyền biển, đảo Hoàng Sa và Trường Sa thiêng liêng của Tổ quốc.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trân trọng tài năng, uy tín và nhân cách của cụ Huỳnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời cụ tham gia Chính phủ cách mạng, kiến thiết chế độ mới. Đáp lại tấm lòng chân thành của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ gác lại những khác biệt về thế hệ, quan điểm và con đường hoạt động, vượt qua giới hạn của tuổi tác để tham gia Chính phủ, dấn thân gánh vác việc nước trong những ngày chính quyền cách mạng còn non trẻ, vận mệnh quốc gia như “ngàn cân treo sợi tóc” bởi sự chống phá của thù trong, giặc ngoài; qua đó thể hiện sâu sắc tinh thần đặt lợi ích dân tộc lên trên hết.
Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và đặc biệt là từ giữa năm 1946 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm nước Pháp, cụ được giao đảm nhận trọng trách Quyền Chủ tịch nước, với bản lĩnh, trí tuệ và uy tín của mình, cụ đã cùng Chính phủ, Quốc hội góp phần giữ vững chính quyền cách mạng, kiến thiết đất nước trong thời khắc vô cùng khó khăn, phức tạp.
Cụ đã vận dụng, thực hành mẫu mực câu nói “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn trước lúc lên đường, trở thành biểu tượng về bản lĩnh: giữ vững nguyên tắc chiến lược nhưng mềm dẻo, linh hoạt về sách lược và cách mạng trên nền tảng kiên định lợi ích quốc gia tối cao.
Trên cương vị Hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt), cụ trở thành biểu tượng, ngọn cờ tập hợp lực lượng, quy tụ lòng dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ngay trước khi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, dù tuổi đã cao, cụ tiếp tục nhận trọng trách Đặc phái viên của Chính phủ đi vào miền Trung để vận động đồng bào đoàn kết kháng chiến, kiến quốc.
Ngày 21/4/1947, cụ trút hơi thở cuối cùng tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi sau thời gian “chống gậy đi kháng chiến” trong điều kiện gian khổ. Cho đến ngày cuối cùng, điều cụ đau đáu nhất vẫn là vận mệnh đất nước, là đoàn kết toàn dân và niềm tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.
Tiếc thương cụ, Chính phủ đã tổ chức Lễ Quốc tang, đánh giá cao cuộc đời, sự nghiệp, cống hiến to lớn của cụ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao... Cả cuộc đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập”. Đó cũng là sự khái quát sâu sắc về tầm vóc của cụ Huỳnh Thúc Kháng - người đã dành trọn cả cuộc đời vì nước, vì dân, tỏa sáng một nhân cách lớn của dân tộc.
Kính thưa các quý vị đại biểu, đồng bào, đồng chí!
150 năm kể từ ngày cụ Huỳnh Thúc Kháng ra đời, quê hương, đất nước đã thay đổi rất nhiều, những giá trị của cụ vẫn còn nguyên vẹn sức sống và tiếp tục gợi mở cho chúng ta nhiều điều quý giá trong công cuộc bảo vệ, xây dựng, phát triển đất nước hôm nay:
Thứ nhất, đó là lòng yêu nước, khí tiết và ý chí tự lực tự cường, luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết.
Cả cuộc đời cụ Huỳnh là chứng minh sống động cho lòng yêu nước không chỉ thể hiện bằng tư tưởng mà bằng hành động, bằng sự dấn thân và trách nhiệm trước vận mệnh đất nước. Từ Phong trào Duy Tân, những năm tháng tù đày ở Côn Đảo đến hăng say đấu tranh nghị trường và dùng ngòi bút sắc bén đấu tranh trên mặt trận báo chí, vang vọng Tiếng Dân cho đến khi tham gia Chính phủ cách mạng, trong bất cứ hoàn cảnh nào, cụ vẫn giữ vững khí tiết: không màng danh lợi, không khuất phục trước cường quyền.
Giá trị ấy cho đến hôm nay càng nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên phải biết đặt lợi ích chung lên trên hết; giữ mình trong sáng; nói đi đôi với làm; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì sự phát triển của quê hương, đất nước.
Noi gương cụ không chỉ là nhắc nhớ một tấm gương của quá khứ, mà quan trọng hơn, mỗi người phải biết tự soi mình trong công việc, trong từng quyết định và trong cách thực thi trách nhiệm để quyền hạn được giao luôn gắn với trách nhiệm và mỗi việc làm đều hướng đến lợi ích của đất nước và nhân dân.
Thứ hai, đó là tinh thần hiếu học, tư duy độc lập và khát vọng canh tân.
Từ rất sớm, cụ Huỳnh và những người đồng chí hướng đã nhận ra rằng: muốn đất nước thoát khỏi yếu hèn thì phải nâng cao dân trí, khơi dậy ý chí dân tộc và chăm lo đời sống của nhân dân. Tư tưởng “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” vì vậy không chỉ mang ý nghĩa của một phong trào lịch sử, mà còn chứa đựng những giá trị có sức gợi mở lâu dài.
Với thành phố Đà Nẵng hôm nay, tinh thần ấy cần được tiếp nối bằng những nội hàm mới:
“Khai dân trí” là phát triển giáo dục, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao và một xã hội học tập.
“Chấn dân khí” là khơi dậy khát vọng vươn lên, tinh thần tự lực tự cường, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới và không bằng lòng với chính mình.
“Hậu dân sinh” là phát triển phải hướng tới con người; thành quả cuối cùng không chỉ được đo đếm bằng tốc độ tăng trưởng hay là những công trình, mà bằng chất lượng cuộc sống, sự hài lòng, niềm tin và hạnh phúc của nhân dân.
Đó cũng chính là cách thiết thực để chúng ta đưa tinh thần Duy Tân vào công cuộc kiến tạo một Đà Nẵng mới trong kỷ nguyên mới.
Thứ ba, đó là tinh thần đại đoàn kết, liêm chính và một đời phụng sự nhân dân.
Cuộc đời cụ Huỳnh cho thấy: trước lợi ích tối cao của đất nước, những khác biệt có thể được vượt qua. Việc cụ Huỳnh cộng sự cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ cách mạng là một biểu tượng cao đẹp của tinh thần đại đoàn kết: biết trân trọng những điểm tương đồng, đặt việc nước lên trên việc riêng và cùng chí hướng về mục tiêu độc lập, tự do của dân tộc, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.
Bài học ấy có ý nghĩa đặc biệt đối với Đà Nẵng ngày hôm nay. Trong không gian phát triển mới, Quảng Nam và Đà Nẵng không chỉ gặp nhau ở địa giới hành chính, mà sâu xa hơn là sự hội tụ trở lại của một không gian lịch sử, văn hóa, con người đã gắn bó với nhau qua nhiều thế hệ.
Địa giới có thể thay đổi, không gian phát triển có thể mở rộng, nhưng mạch nguồn văn hóa, lịch sử và khí chất xứ Quảng vẫn là một dòng chảy liên tục, ngày càng được bồi đắp màu mỡ như mạch nguồn phù sa.
Vì vậy, càng bước vào một chặng đường mới, chúng ta càng phải phát huy những điểm tương đồng, trân trọng sự khác biệt, cùng sẻ chia, cùng gánh vác sứ mệnh chung cao cả, đặt lợi ích chung của thành phố và cuộc sống của nhân dân lên trên hết; xây dựng một Đà Nẵng thống nhất trong ý chí, đồng thuận trong hành động, hài hòa trong phát triển và rộng mở hướng tới tương lai tươi sáng.
Kính thưa các đồng chí, quý vị đại biểu, đồng bào, đồng chí!
Tự hào và tri ân những cống hiến lớn lao của cụ Huỳnh Thúc Kháng, tên tuổi của cụ hôm nay đã trở thành một phần thân thương trong đời sống tinh thần của nhân dân thành phố, được trân trọng lưu giữ qua các di tích, đường phố, trường học, giải thưởng và nhiều hoạt động giáo dục truyền thống, không gian văn hóa.
Nhân dịp trọng thể này, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Đà Nẵng bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đối với cụ Huỳnh Thúc Kháng và các bậc tiền nhân đã hiến dâng cuộc đời cho độc lập, tự do của dân tộc. Trân trọng cảm ơn gia tộc cụ Huỳnh đã gìn giữ, trao truyền những giá trị quý báu về cuộc đời, sự nghiệp và nhân cách của cụ trao cho các thế hệ hôm nay.
Kế thừa khí chất, ý chí và khát vọng canh tân của cụ Huỳnh cùng các bậc tiền nhân, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Đà Nẵng đang đứng trước một chặng đường phát triển mới với không gian rộng lớn hơn, tiềm lực mạnh mẽ hơn nhưng trách nhiệm cũng nặng nề hơn.
Đến năm 2030, thành phố phấn đấu xây dựng Đà Nẵng hiện đại, giàu bản sắc, con người nhân văn, có chất lượng cuộc sống cao; tầm nhìn đến năm 2045, xây dựng Đà Nẵng trở thành đô thị sinh thái, thông minh, trung tâm thương mại tự do, tài chính quốc tế, công nghiệp, logistics, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và thành phố du lịch đáng sống, đẳng cấp khu vực châu Á.
Đó là những mục tiêu lớn, đòi hỏi khát vọng lớn, ý chí lớn và trên hết là sự đồng lòng, chung sức của toàn Đảng bộ, chính quyền và lực lượng vũ trang, cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân thành phố.
Kính thưa các đồng chí!
Kỷ niệm 150 năm ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng, chúng ta càng hiểu sâu sắc rằng: truyền thống chỉ thực sự được tiếp nối bằng hành động; lòng biết ơn chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành trách nhiệm; khát vọng chỉ có thể trở thành hiện thực bằng ý chí, trí tuệ, kỷ cương và sự đồng lòng.
Phát huy tinh thần yêu nước, khí tiết, ý chí tự lực tự cường và khát vọng canh tân của cụ Huỳnh, tôi tin tưởng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố sẽ tiếp tục đoàn kết, chung sức đồng lòng, phát huy cao nhất truyền thống và sức mạnh con người xứ Quảng; quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội lần thứ I Đảng bộ thành phố; xây dựng Đà Nẵng ngày càng văn minh, hiện đại, giàu bản sắc, nhân văn, đáng sống, xứng đáng với di sản của tiền nhân, với niềm tin của nhân dân và với khát vọng vươn lên của một thành phố trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
Tinh thần yêu nước, khí tiết và khát vọng canh tân của cụ Huỳnh Thúc Kháng sẽ mãi mãi là nguồn sức mạnh tinh thần quý báu, tiếp thêm ý chí cho các thế hệ hôm nay và mai sau trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí!