Theo bước chân người Quảng

Biển và căn tính con người xứ Quảng

BÙI VĂN TIẾNG 05/06/2026 13:10

VHXQ - Từ "Vọng Hải Đài" đến tư duy đại dương

Ảnh: LÊ HUY TUẤN

Trong các tỉnh/thành phố duyên hải ngửa mặt nhìn Biển Đông, chỉ riêng Huế và Đà Nẵng là có đài ngắm biển: Hải Vọng đài trên Bạch Mã và Vọng Hải đài trên Thủy Sơn.

Thật ra tòa nhà hình bát giác mang tên Hải Vọng đài được người Pháp xây dựng trên Bạch Mã vào nửa đầu thập niên 1930 là để phục vụ du khách nghỉ dưỡng ở Bạch Mã có nhu cầu đăng cao vọng viễn - và tuy có thể nhìn thấy cửa biển Thuận An hay vịnh biển Lăng Cô nhưng chủ yếu vẫn là ngắm cảnh núi rừng.

Trong khi tảng đá sa thạch được vua Minh Mạng cho khắc ba đại tự chữ Hán 望海臺 (Vọng Hải Đài) dựng trên ngọn Thủy Sơn vào nửa sau thập niên 1830 chỉ nhằm truyền đi một thông điệp văn hóa/chính trị: “Hãy nhìn về phía biển khơi xa!”.

Đây cũng là tư duy đại dương của người Đà Nẵng ở tiền bán thế kỷ 19 - chủ yếu là tư duy cảnh giác với những gì bất trắc đến từ phía đại dương mênh mông.

Nghị quyết số 43-NQ/TW năm 2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định Đà Nẵng là “thành phố cảng biển” - chứ không chỉ là thành phố biển. Nghĩa là lợi thế so sánh của Đà Nẵng vừa ở cảng lại vừa ở biển.

Nhiều nơi chỉ có cảng chứ không có biển, cảng nằm xa biển. Ngược lại nhiều nơi có biển mà không có cảng, hoặc có cảng nhưng cảng không sâu, không kín gió, không có bề dày lịch sử hàng trăm năm như cảng Đà Nẵng.

Cũng có nghĩa một trong những thế mạnh cần được phát huy của Đà Nẵng là giao thương kinh tế và giao lưu văn hóa, là tư duy đại dương trong thời đại mới - tư duy nối vòng tay lớn hội nhập toàn cầu ở tiền bán thế kỷ 21. Đương nhiên, người Đà Nẵng đương đại không phải không cần cảnh giác với những gì bất trắc đến từ phía đại dương mênh mông kia: Và Hoàng Sa của tôi ơi/ Chân mây sáng quắc như lời thanh gươm (thơ Bùi Văn Tiếng).

Trong chuyến công tác sang Nhật Bản vào năm 2013, khi cùng ăn tối ở Tokyo, tôi đã có dịp giải thích với cựu Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Hiroyuki Yushita rằng, khác biệt giữa nước mắm và nước tương không chỉ là khác biệt giữa hai loại nước chấm mà còn và/ chủ yếu là khác biệt giữa văn hóa ngư nghiệp với văn hóa nông nghiệp.

Người Đà Nẵng cũng thích ăn nước tương nhưng số đông vẫn thèm ăn nước mắm hơn, nhất là nước mắm dằm với ớt xanh và do vậy người Đà Nẵng có thói quen ăn mặn - thậm chí “mặn quắn”.

Ở Đà Nẵng có nhiều làng nghề làm nước mắm, chẳng hạn như Cửa Khe, Tam Thanh, An Hòa và Nam Ô - nghề làm nước mắm Nam Ô được vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2019 (theo Quyết định số 2974/QĐ-BVHTTDL), trước thời điểm vinh danh nghề làm nước mắm Phú Quốc hai năm (theo Quyết định số 1730/QĐ-BVHTTDL năm 2021) và trước nghề làm nước mắm Phú Yên ba năm (theo Quyết định số 71/QĐ-BVHTTDL năm 2022).

“Ăn sóng nói gió” - dấu ấn biển trong căn tính xứ Quảng

Nghề làm nước mắm và nghề làm muối tuy nhọc nhằn và đòi hỏi người làm nghề phải chịu thương chịu khó một nắng hai sương, nhưng dẫu sao cũng là nghề duyên hải, lao động ngay trên bờ, khác với nghề đánh bắt hải sản - được gọi thẳng là nghề biển - gian nan hơn nhiều và/vì thường xuyên phải đối mặt với sóng gió biển khơi đầy nguy hiểm, đến mức ca dao làng biển có câu: Chồng nghèo nghề ruộng em theo/ Chồng giàu nghề biển hồn treo cột buồm...

Không phải ngẫu nhiên mà con người xứ Quảng nổi tiếng là “ăn sóng nói gió”. Đặc điểm này xuất phát từ thực tiễn lao động của ngư dân - giữa biển cả mênh mông, tiếng sóng biển ầm ào, muốn nói cho nhau nghe dẫu trên cùng một con thuyền, người làm nghề biển không còn cách nào khác là phải nói thật lớn tiếng.

Và không chừng đây mới là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến người Quảng tính cách “khí tiết cứng cỏi bạo nói, tính người hay nóng nảy, ít trầm tính” chứ không chỉ vì “thổ lực không hậu mà thế nước chảy gấp” như cách lý giải của sử gia triều Nguyễn.

Biển gắn với căn tính con người xứ Quảng nên để phòng thủ cửa Hàn, triều Nguyễn xây thành Điện Hải và thành An Hải, gọi hòn Sơn Trà con là đảo Ngự Hải, dựng pháo đài Phòng Hải và pháo đài Định Hải (đặc khu Hoàng Sa cũng từng mang tên xã Định Hải), và Hải Vân quan cũng chính là một loại Vọng Hải đài trên núi Hải Vân.

Trước tháng 7 năm 2005, Đà Nẵng có một số tên gọi xã, phường ven biển mang từ tố Hải: Hòa Hải, Duy Hải, Bình Hải và Tam Hải; sau tháng 7 năm 2025, số lượng phường, xã giảm nhiều song Đà Nẵng vẫn còn một số tên gọi xã, phường ven biển mang từ tố Hải: Hải Vân, Hải Châu, An Hải và Tam Hải.

Đây cũng là cách để lưu giữ yếu tố biển trong ký ức cộng đồng - giống như mấy trăm năm trước, lưu dân một làng ven biển ngoài Thanh Hóa vào khẩn đất lập làng bên tả ngạn sông Hàn không có biển nhưng vẫn mang tên làng mình vào đặt cho quê hương mới - làng Hải Châu nay thuộc phường Hải Châu.

(0) Bình luận
x
Nổi bật
Mới nhất
Biển và căn tính con người xứ Quảng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO