ĐNCT - Giữa cánh rẫy chênh vênh nơi miền quê biên giới Việt - Lào, những căn chòi không chỉ để trú nắng, trú mưa, nó là nơi chở che những ước mơ giản dị của người nông phu có đủ cơm ăn, áo mặc, đủ sức khỏe để tiếp tục công việc. Nhìn chiếc chòi bình dị giữa đất trời bao la, họ như được tiếp thêm sức mạnh từ đất, từ rừng, từ những vụ...

Tuổi thơ tôi gắn với ruộng rẫy nên việc ăn ngủ trong căn chòi rất đỗi thường xuyên. Hồi đó, chòi rẫy được thiết kế như ngôi nhà sàn thu nhỏ, đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt cần thiết của một gia đình. Vì vậy, nương rẫy ở đâu, chòi rẫy được dựng ở đó để người dân quê tôi có thể nghỉ ngơi sau những giờ lao động cực nhọc.
Cha tôi thường làm chòi rẫy với mái che bằng lá tranh, thân nứa hoặc lá cọ, được dựng lên giữa lòng nương rẫy trên các đồi cao. Mái chòi cao ở phía trước, thấp dần về phía sau. Ở rẫy, một vài căn chòi có phên vách nhưng cũng có căn chòi bốn bề thoáng đãng, giúp gia chủ dễ dàng quan sát xung quanh.
Ngày đó, sàn chòi thường được làm từ những thanh nứa đập dập, nan tre được bện chặt lại bằng những sợi dây mây cứng cáp để sàn không bị ọp ẹp, vững vàng dưới bước chân mệt mỏi của người nông dân.
Mỗi mùa dọn cỏ hay mùa thu hoạch lúa, gia đình tôi thường chọn ở lại chòi để tiết kiệm thời gian vì đường đi từ nhà đến rẫy khá xa. Có chút e ngại với cảm giác của những đêm khuya vắng lặng giữa núi rừng, nhưng tôi luôn háo hức mỗi khi cha mẹ thông báo sẽ được ngủ lại căn chòi. San sát vài căn chòi được dựng giữa bìa rừng, mỗi ngày, những đứa trẻ ở xã Đắc Pre cũ (nay là xã Đắc Pring) lại có những ngày tháng tuổi thơ đầy ắp tiếng cười.
Sau nhiều ngày trỉa lúa, màu xanh lá mạ của lúa lẫn cỏ mọc xanh um, bao phủ mặt đất, chiếc chòi lấp ló giữa những đồi cỏ như một tổ chim đơn độc, lặng lẽ nhìn những đôi tay tảo tần dọn cỏ, làm đất. Khi lúa rẫy chín vàng ruộm, màu trăng non trải rộng trên khắp sườn đồi, chòi lại đứng vững vàng như để đón đợi những hạt lúa từ bàn tay cần cù của người nông dân.
Cha mẹ và tôi thức khuya, dậy sớm để kịp làm hết công việc. Tôi còn nhỏ nhưng cũng giúp cha mẹ đập lúa, sàng lúa rồi hốt lúa vào chơpoong (một loại gùi có nắp được đan kín, dùng để đựng lúa) rồi vận chuyển về chòi. Sau nhiều giờ đồng hồ làm việc, chúng tôi lại về chòi quây quần bên bếp củi. Ngọn lửa trong căn bếp tỏa ra hơi ấm, xua cái lạnh của núi rừng. Tiếng cười nói vang lên trong căn chòi nhỏ, giản dị nhưng ấm áp lạ thường.
Những đêm cùng cha mẹ ngủ trong chòi rẫy, tôi nằm trên chiếc chiếu cũ, nghe tiếng gió núi rít qua khe cửa, tiếng côn trùng rả rích ngoài sân, thỉnh thoảng có tiếng bước chân của người bạn nương đêm, mang theo mùi cỏ, mùi đất. Khoảnh khắc ấy, tôi cảm nhận được sự cần cù, kiên nhẫn của người dân. Họ có thể thức suốt đêm, làm không ngừng nghỉ nhưng không bao giờ than vãn, nụ cười có thể mệt nhọc nhưng đầy yêu thương.
Bây giờ, con đường nông thôn được mở sâu vào các cánh rẫy, những chiếc chòi dần thưa vắng, nhường chỗ cho những chiếc xe máy sáng đi chiều về nên việc ngủ lại chòi cũng không còn. Thời gian vùn vụt trôi, tôi xa chòi rẫy lâu như bước trâu đẩy dốc. Mỗi lần nghĩ về chòi rẫy, lòng như lắng lại, cảm xúc bồi hồi như thể những ngày tháng gian khó ấy vừa mới qua mà đã xa vời vợi.