Ở miền Tiên Phước, đá được xem là “đặc sản” tạo nên diện mạo, cảnh sắc và chiều sâu văn hóa của vùng trung du.

Những ngõ đá, bờ đá, bãi đá không chỉ im lìm giữa vườn cây trái, sừng sững nơi núi đồi hay lặng lẽ ven sông suối... mà còn là chứng nhân ký ức, thành huyền thoại và bản sắc tâm hồn của con người nơi đây.
Những địa danh Đá
Trong cuốn “Địa chí Tiên Phước Quảng Nam” (NXB Đà Nẵng, 2023), các nhà nghiên cứu thống kê hơn 80 địa danh mang tên “Đá” có mặt ở hầu hết các xã trên địa bàn vùng bán sơn địa này. Cách đặt tên của dân gian đều có lý lẽ riêng. Rồi theo thời gian, “lý lẽ” ấy bị nhòa mờ dần đi, chỉ còn lại những cái tên mang tâm hồn quê kiểng.
Không phải ngẫu nhiên mà đá trở thành phần hồn, thành tên gọi của vô số vùng không gian địa lý như thế. Đá ghi dấu cảnh quan tự nhiên. Người xưa thường đặt tên theo các đặc điểm về hình dáng (Bến Đá Chồng, Đá Rồng, Đá Voi...), màu sắc (dốc Đá Trắng, đồi Đá Sọc...), địa hình (sông Đá Giăng, bãi Đá Nhảy...) hoặc tác dụng của đá (núi Đá Mài, dốc Đá Nghỉ)... Đây là cách định danh không gian sống tự ngàn xưa, để con người dễ dàng hình dung bản đồ ký ức khi chưa có thiết bị hay phương tiện định vị hiện đại.
Đá muôn hình muôn vẻ, là chiếc cầu nối giữa hiện thực và trí tưởng tượng phong phú của con người. Có lẽ mỗi địa danh gắn liền với tên của Đá đều mang một huyền thoại, nhưng thời gian làm mai một, chỉ còn lại vài câu chuyện nổi tiếng lưu truyền như: “Sự tích núi Đá Vách”, “Sự tích Lò Thung”, “Sự tích dòng sông Tiên Thác Bố bãi vàng”...
Điểm nhấn của vô số địa danh ấy chính là bãi đá Lò Thung gắn với tích truyện vị thần khổng lồ đến khai khẩn nơi đây. Danh thắng Lò Thung, thuộc sông Đá Giăng hiện nay thuộc xã Thạnh Bình vẫn còn lưu dấu vết bàn chân thần khổng lồ, cái cối, cái chày, cái lò, cái chén và muôn dạng hình hang hốc độc đáo, lạ lẫm của đá. Nơi đây được mệnh danh là “vương quốc đá”, trái tim của sông Đá Giăng.
Cách đó khoảng vài trăm mét về phía thượng lưu sông Đá Giăng là bãi Đá Nhảy. Đá giăng giăng từ bờ này sang bờ kia. Mùa nước cạn, người ta có thể nhảy/ bước trên đá mà sang sông. Vì thế mà có tên Đá Giăng, Đá Nhảy? Nhận xét về Lò Thung, ông Phan Hồng Phát - Trưởng phòng Văn hóa xã Thạnh Bình khẳng định: “Bãi đá Lò Thung là một trong những điểm nhấn quan trọng trên bản đồ du lịch xanh của địa phương hiện nay. Từ đây, có thể kết nối các địa danh từ Làng cổ Lộc Yên, nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng, Hang Dơi đến thác Ồ Ồ, Ổ Dều (xã Sơn Cẩm Hà) để phát triển du lịch bằng chiến lược hợp lý, dài hạn”.
Địa danh gắn liền với đá còn phản ánh tâm thức của người dân: tâm hồn thuần hậu, đơn sơ, chất phác, gần gũi với thiên nhiên và niềm tin vào sự huyền bí linh thiêng, chọn đó làm điểm tựa tinh thần. Vì đá biểu tượng cho sự vững chãi, trường tồn. Mỗi địa danh gắn liền với Đá là một phần ký ức chung, có giá trị kết nối bao thế hệ ở cả phương diện không gian và thời gian; là “một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha” (Nguyễn Khoa Điềm).
Văn hóa đá
Tự thuở khai làng lập ấp, đá đã hiện diện và trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của con người. Người dân ở Tiên Phước (cũ) đã tận dụng đá núi, đá ở vườn, chẻ ra và chất xếp thành ngõ đá, bờ vườn bằng đá, giếng đá, tường đá và lát ngõ, lát đường bằng đá. Họ trở thành nghệ nhân của làng. Qua bàn tay các nghệ nhân nông dân, không cần bất cứ loại chất kết dính nào, những viên đá từ khắp vườn đồi được chất xếp lại thành bờ đá, ngõ đá mềm mại, nên thơ.
Có hai kiểu ngõ đá thường gặp: kiểu thứ nhất là ngõ lát đá, bờ ngõ cũng là đá; kiểu thứ hai là ngõ lát đá, bờ ngõ là hai hàng cau hoặc chè tàu được tỉa cắt phù hợp với không gian nhà vườn. Tùy địa thế, ngõ có thể chạy dài từ cao xuống thấp, thẳng hoặc cong, uốn mình dưới hàng cau, dưới tán cây già. Cũng có ngõ đá là những bậc tam cấp, ở giữa mòn lối chân đi, phần còn lại lấm tấm rêu. Điều thú vị là ngõ đá có thể kết hợp hài hòa với kiến trúc nhà gỗ, nhà tranh hoặc nhà xây hiện đại. Một sự hòa điệu thật dễ tính và hiền hậu.
Năm tháng trôi qua, rêu phong trên đá tạo thành một lớp xanh mơ màng. Chạm đôi chân trần trên ngõ, ta nghe “chân cứng đá mềm”, nghe lời thì thầm dịu dàng của rêu đá, nghe thời gian như lạc về thuở xa xưa…
Ngõ đá, ngoài giá trị sử dụng, còn là không gian trữ tình. Ngõ đá kết nối nhà ở với ruộng vườn, đồi núi. Ngõ là chứng tích thời gian, là nơi hẹn hò của tuổi trẻ. Mỗi con ngõ như là niềm giao cảm thiêng liêng và bí ẩn giữa con người với ruộng vườn, với không gian xung quanh. Làng quê yên ả, thanh bình hơn bởi những ngõ đá không hề có cổng, mà thường mở rộng ra thành bờ vườn. Đó là không gian mở, không gian của tương giao. Trước mỗi ngõ nhà thường là con đường làng cỏ dại thoảng hương, là ruộng đồng ngan ngát mùi rơm rạ. Du khách thập phương đến thăm, bước nhẹ chân lên ngõ đá, nghe như lạc vào chốn thiên thai. Nét đẹp chân chất, hiền lành mà thẳm sâu của ngõ đá cũng chính là tâm hồn người dân nơi đây.
Các ngôi làng như làng cổ Lộc Yên, Hội An hay An Sơn… đều tuyệt đẹp bởi kiến trúc ngõ đá chè tàu uốn lượn giữa ngăn ngắt màu xanh ruộng đồng hay ẩn mình giữa các vườn cây ăn trái, mỗi mùa, mỗi sắc trung du. Nghệ thuật kiến trúc đá góp phần gìn giữ bản sắc hồn quê trong tiến trình xây dựng nông thôn mới.
Những câu chuyện về đá ở vùng Tiên Phước còn rất nhiều trầm tích bí ẩn và cần được viết tiếp bởi các khảo cứu khoa học bài bản, có chiều sâu. Nhưng chắc rằng, ngõ đá chè tàu nói riêng, văn hóa đá nói chung đã tạo thành thương hiệu xứ Tiên trong lòng du khách.
“Về làng xưa Lộc Yên nghe thời gian trăm năm thì thầm trên từng bậc đá rêu phong và về đây dưới mái nhà xưa nghe hồn Mính Viên thơm trong gió lành…” (Tiên Phước xanh ngắt một miền quê, Nguyễn Duy Khoái). Câu hát về vùng quê này cứ vang vọng như một lời tự tình.
Đá không lặng lẽ im lìm nơi bờ vườn, đường làng hay con ngõ. Đá đồng hành với con người qua bao ngày mưa tháng nắng, chở che vườn tược, lưu giữ ký ức cha ông và gìn giữ hồn người, hồn quê. Đá gợi nhắc tính cách kiên cường, bền bỉ, thủy chung của con người.
Giữ gìn và phát huy những câu chuyện bất tận từ đá, phải chăng cũng chính là cách góp phần bảo tồn ký ức và bản sắc văn hóa của con người, quê hương trong dòng chảy thời hội nhập?