Ở làng Phong Lục xưa, nay thuộc phường An Thắng (thành phố Đà Nẵng), có hai chị em cùng tham gia kháng chiến từ thuở tóc còn xanh. Họ không cầm súng, nhưng chiến đấu bằng lòng tin, bằng sự chịu đựng, bằng đức hy sinh bền bỉ như đất quê hương.

Làng Phong Lục hình thành hơn 5 thế kỷ, tiền nhân khai khẩn và chia thành ba xứ: Đại Hoa, Tiểu Hoa và Trà Hân. Phủ biên tạp lục (1776) và Đại Nam nhất thống chí (1865 - 1910) đều ghi xã Châu Phong - Lục Giáp (Phong Lục). Trải qua bao biến thiên lịch sử, Phong Lục hết trực thuộc tổng này lại đến phủ kia, hết xã này lại đến xã khác, cuối cùng từ 1/7/2025 trực thuộc phường An Thắng. Cho dù địa danh có thay đổi như thế nào thì tấm lòng người dân Phong Lục vẫn bất biến: Yêu đất nước quê hương, cần cù lao động, cố kết cộng đồng trong tình làng nghĩa xóm, gắn bó keo sơn.
Phong Lục có hai chị em ruột chấp nhận một định mệnh nghiệt ngã: chiến tranh đã đẩy họ về hai phía của một đất nước bị chia cắt - hai người chồng ở hai bên chiến tuyến, hai số phận cùng mang chung một nỗi đau: đợi chờ và cô đơn kéo dài suốt cả đời người.
Hạnh phúc có bóng dáng hy sinh của một người
Người chị tên là Đỗ Thị Vọng, sinh năm 1928, con của liệt sĩ Đỗ Như Hinh. Bà sinh ra trong một gia đình nền nếp, thấm đượm truyền thống yêu nước. Thời Việt Minh, bà là nữ tự vệ chiến đấu, năng nổ, dạn dày trong phong trào vừa kháng chiến vừa kiến quốc.
Tuổi xuân đang độ mười chín, đôi mươi, bà yêu một chàng trai người tộc Phan cùng làng, hiền lành, khí khái. Đôi trai tài gái sắc nên duyên trong buổi đất nước vừa ngưng tiếng súng, tưởng chừng hạnh phúc đã mỉm cười. Nhưng chiến tranh lại gọi tên họ. Hiệp định Genève ký kết, anh được lệnh tập kết ra Bắc - một cuộc chia ly mang tầm lịch sử, mà với người phụ nữ trẻ ấy, là vết cắt dài đến suốt đời.
Đêm cuối cùng bên nhau, người vợ thức trắng, ôm chiếc gối cưới mà nước mắt nhòe ướt cả tấm chăn bông. Rạng sáng, chị tiễn chồng ra bến, không nói được lời nào, chỉ nhìn theo cho đến khi con tàu khuất dạng. Anh dặn lại: “Hai năm thôi, anh sẽ về”.
Nhưng hai năm hóa thành bảy ngàn năm trăm ngày, một đời người mỏi mòn chờ đợi.
Ở quê nhà, bà Vọng lấy công việc làm niềm vui, lấy lòng tin làm lẽ sống. Bà tiếp tục hoạt động cách mạng, bị địch bắt, bị tra tấn, hai lần tù đày ở Hội An và Khám Chí Hòa, nhưng chưa một lần nao núng. Ra tù, bệnh tật dày vò, bà ra Đà Nẵng làm thuê, ban ngày quét chợ, ban đêm ngồi nghe đài, mong tiếng người xưa vọng lại.
Một hôm, tin báo chồng sắp qua làng. Bà chạy về, lòng rộn ràng như cô gái mới cưới. Đêm ấy họ gặp nhau, ôm nhau không nói nên lời. Chỉ một đêm, rồi anh lại đi. Cả đời bà sống bằng ký ức của đêm ấy - một đêm duy nhất trong hai mươi năm xa cách.
Ngày đất nước thống nhất, bà hòa vào dòng người reo mừng chiến thắng. Giữa cờ hoa, bà thấy anh, vẫn dáng người ấy, giờ oai phong trong bộ quân phục dính bụi đường hành quân. Họ ôm nhau, nước mắt hòa trong nụ cười, tưởng như hạnh phúc đã thật sự trở về. Nhưng niềm vui chẳng trọn: anh tiếp tục đi làm nhiệm vụ, còn bà lại trở về ngôi nhà nhỏ, với niềm tin rằng một ngày, anh sẽ về bên mình mãi mãi.
Rồi ngày ấy đến. Họ đoàn tụ, nhưng thời gian đã nhuốm bạc mái đầu. Người vợ thủy chung không còn khả năng sinh nở. Bà khóc, rồi dằn lòng nói với chồng: “Anh hãy đi thêm bước nữa… tôi không thể cho anh một đứa con”.
Đó là lời nói xuất phát từ trái tim của một phụ nữ đã dâng trọn đời mình cho tình yêu và nghĩa nặng. Ông chồng nghe xong chỉ biết lặng im, nước mắt ngân ngấn đôi dòng. Sau này, ông có một mái ấm khác, có ba người con. Bà Vọng mừng cho ông, dù mỗi lần ông ghé về, lòng bà lại chùng xuống.
Những năm cuối đời, bà sống một mình trong ngôi nhà cũ, lặng lẽ như chiếc bóng. Lúc tỉnh, bà vẫn nhắc tên chồng; lúc mê, bà nói chuyện ngày xưa, ánh mắt mờ đục mà lòng vẫn sáng ngời niềm yêu thương. Một chiều mưa, ở tuổi bảy mươi, bà nhắm mắt thanh thản ra đi, mang theo nỗi nhớ hóa thành ánh đèn soi mãi bên bến sông quê.
Hôm rồi, sau ngày lũ lớn, tôi ghé thăm nhà bà, thắp nén hương mong bà được an yên. Sau đó tôi đến thăm gia đình ông Phan Song, người chồng cũ của bà. Ở tuổi 98, ông vẫn minh mẫn, mái nhà ấm cúng với ba người con và người vợ hiền luôn kề cận. Nhắc chuyện xưa, ông bùi ngùi: “Nhờ bà Vọng mà tôi có được gia đình như hôm nay. Tấm lòng và sự hy sinh của bà… tôi mang theo suốt đời”.
Bà Từ Thị Đương, người vợ sau của ông Song, cũng nghẹn ngào: “Tôi và các con luôn biết ơn chị Hai (bà Vọng). Nhờ chị mà các con tôi có mặt trên đời, có mái ấm hạnh phúc”.
Giữa câu chuyện thấm đẫm nghĩa tình ấy, tôi bỗng nghĩ: Ở nơi suối vàng, hẳn bà Vọng cũng sẽ yên lòng khi nhìn thấy người chồng từng hết mực thương yêu giờ đang sống trong hạnh phúc, ấm êm; một hạnh phúc có bóng dáng sự hy sinh thầm lặng của chính bà.
Thương yêu hóa thành niềm xót xa lặng lẽ
Người em bà Vọng tên là Đỗ Thị Trông, sinh năm 1932 - đẹp gái nhất nhà, từng là hoa khôi của làng Phong Lục. Cũng như chị mình, bà sớm tham gia cách mạng, là du kích tập trung của xã Điện An (cũ). Năm 1953, bà kết hôn cùng ông Võ Văn Đệ, người làng Phong Ngũ, một giao liên kiêm giáo viên phong trào bình dân học vụ, thông minh, nho nhã. Đám cưới của họ được tổ chức long trọng, giữa tiếng cười và niềm hy vọng của hai họ.

Họ có với nhau ba người con. Sau 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm truy lùng người từng tham gia kháng chiến. Ông Đệ buộc phải rời quê vào Sài Gòn lánh nạn. Khi bị lộ, ông đành khoác áo lính Việt Nam Cộng hòa - một thân phận dở dang giữa hai làn đạn.
Ở quê, bà Trông một nách ba con thơ, vừa làm mẹ vừa làm cha. Bà buôn bán khắp nơi, từ Đà Nẵng đến Quế Sơn, Đại Lộc, Tiên Phước, làm đủ nghề để nuôi con. Thời chiến, nhiều lần bà vượt qua làn đạn, bí mật chuyển thuốc men, gạo muối, tiền bạc cho quân ta vùng giải phóng. Có những đêm đi trong sương mù, chỉ một viên đạn lạc là mất mạng.
Tuổi trung niên đến, bà vẫn đẹp, cái đẹp nền nã của người từng trải. Nhiều người đàn ông để ý, nhưng bà một lòng hướng về chồng.
Ông Đệ đôi khi về phép, nhưng giữa hai người đã có khoảng cách. Một bên cô đơn nuôi con trong gian khó, một bên chinh chiến lưu lạc, thương yêu dần hóa thành niềm xót xa lặng lẽ.
Đến tháng 4/1975, ngày đất nước thống nhất, ông trở về quê, dự định ở lại. Nhưng sức khỏe suy kiệt, không chịu nổi cảnh ruộng đồng lam lũ, ông lại vào Nam. Chẳng bao lâu, ông lâm bệnh nặng và mất khi mới 42 tuổi, để lại cho vợ con nỗi đau tận cùng.
Từ đó, bà Trông sống trong lặng lẽ. Ở tuổi chín mươi, khi kể lại chuyện cũ, giọng bà vẫn run run, ánh mắt vẫn thẳm sâu như nhìn về một bờ thời gian xa khuất: “Người ấy đã đi xa rồi, tôi chỉ mong các con nên người”.
Hôm rồi tròn hai năm ngày bà Đỗ Thị Trông rời cõi thế. Tôi tìm đến phần mộ của bà, thắp một nén hương thành kính. Khói hương bay nhè nhẹ trong gió khiến lòng tôi chợt dâng lên một nỗi rưng rưng khó tả, thương cho một phận người lặng lẽ, hiền hậu mà cuộc đời chịu nhiều truân chuyên.
Ông Đỗ Như Quý, trưởng họ Đỗ làng Phong Lục, nhìn di ảnh bà rồi chậm rãi nói: “Dòng họ tôi có hai cô gái đẹp người, đẹp nết. Mỗi người một phận đời nghiệt ngã, nhưng tấm lòng, đức độ và sự hy sinh của các cô thì sáng mãi. Đó là điều mà lớp con cháu đời sau phải học tập, phải khắc ghi”.
Lời ông Quý làm dấy lên sự xúc động trong lòng tôi. Cuộc đời bà Trông, dẫu nhiều vất vả, vẫn lặng lẽ tỏa sáng bởi đức hy sinh và tình thương dành cho người thân, cho cuộc sống.
Hai chị em ruột làng Phong Lục ấy tuy đi qua cuộc chiến với hai hướng khác nhau nhưng cùng chung một nỗi đau: nỗi chờ đợi vô biên, nỗi cô đơn của người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh.
Họ không cầm súng, nhưng chiến đấu bằng lòng tin, bằng sự chịu đựng, bằng đức hy sinh bền bỉ như đất quê hương. Trong họ là hình ảnh của muôn vàn người mẹ, người vợ Việt Nam đã lặng lẽ giữ lấy tình yêu, niềm tin, và sự sống cho đất nước. Họ là những vì sao lặng lẽ tỏa sáng giữa bầu trời hậu chiến, soi rọi mãi cho những thế hệ mai sau.