VHXQ - Trong rất nhiều cá tính phong phú, đặc sắc của người xứ Quảng (Quảng Nam - Đà Nẵng), tôi nghĩ nhiều về câu nói của thầy Xuân - nhà văn, học giả Nguyễn Văn Xuân. Đó là người Quảng mang “tính cách biên viễn, tiền đồn”.

Nhìn vào lịch sử, xứ Quảng là bàn đạp chiến lược, trung tâm kinh tế - quân sự, văn hóa có vai trò quyết định cho công cuộc vĩ đại mở cõi về phương Nam dưới thời các chúa Nguyễn. Là “đất yết hầu”, nên con người xứ này luôn hiên ngang đối mặt đầu sóng ngọn gió bi tráng của thời đại.
Bi tráng là những người con xứ Quảng xem cái chết tựa hạt bụi, vì nước, vì dân, vì khát vọng đổi mới (Duy tân). Lẫm liệt trên pháp trường là những chí sĩ Nguyễn Duy Hiệu, Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phan Thành Tài, Nguyễn Thụy... Thậm chí khiến kẻ thù tức tối dùng đến kiểu tử hình tàn độc là chém ngang lưng (yêu trảm) như Trần Quý Cáp. Và tuẫn tiết cùng thành Hà Nội như Tổng đốc Hoàng Diệu.
“Tướng lược không tài, tự nghĩ sống là vô ích; thành mất chẳng cứu, ví bằng chết cũng chưa đền. Đem thân tự quyên sinh, không thể học Tào Mạt hay dọa địch; treo cổ đền trách nhiệm, chỉ mong theo Trương Tuấn chết giữ thành”.
Di biểu Tổng đốc Hoàng Diệu dùng máu đầu ngón tay viết trước khi quyên sinh, buổi trưa ngày 25 tháng 4 năm Nhâm Ngọ (1882), như một tấc “đan tâm chiếu hãn thanh”.
Tính chất “biên viễn” tự sâu thẳm tâm can, luôn đẩy người Quảng đến “mút chỉ” của ranh giới, lắm lúc mong manh.
Như sống. Đối mặt với nắng lửa, bão dông, một bên núi rừng thâm u, một bên đại dương kỳ vĩ. Giữa hoàn cảnh đầy cam go, thử thách, con người xứ này dường như không có thời gian để vòng vo, mà thẳng băng, mà khí khái. Mà cãi, để tìm ra câu trả lời một cách nhanh nhất, thẳng nhất.
Như yêu. Yêu ghét phân minh. Yêu chân thật, chân thành, đậm đà: “Thương nhau đâu dễ thương thầm/ Thương thì rượu hũ, trầu mâm đến nhà”.
Nhưng không thô ráp mà đầy tinh tế: “Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm/ Rượu hồng đào chưa nhấm đã say”.
Như sáng tạo. Từ hơn trăm năm trước, nơi đây chính là “tiền đồn” khai mở Phong trào Duy tân, với những cái tên chói sáng: Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Phan Thúc Duyện, Phan Thành Tài, Mai Dị..., sau này là Phan Khôi, với những tư tưởng còn nguyên giá trị vượt thời gian.
Xứ Quảng có Bùi Giáng - “thiên tài tự hủy ghê gớm nhất của thi ca Việt Nam hiện đại”, như nhận định của một nhà phê bình. Một trường hợp thi ca có lẽ hàng thế kỷ sau chưa thể lặp lại. Tiểu sử ông cũng chính là tiểu sử tinh thần của một vùng đất mà mọi thứ đều được đẩy đến những ranh giới cực điểm nhất.
Trong bài thơ “Nói với mình và các bạn”, thi sĩ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ - một người con xứ sở - đã phản tư sâu sắc khi mới 22 tuổi:
“Tôi viết những bài thơ chống lại chính tôi
Chống lại bóng đen trì trệ của đời
Chống lại những bài thơ tôi đã viết cùng
những ai ưa thích nó
Làm sao đọc thơ tôi anh giận dữ băn khoăn
xấu hổ
Cãi lại tôi hay ghét tôi đi nữa
Nhưng anh thôi hờ hững sống bình yên...
Thơ sinh sự với cuộc đời không cho ai dừng
bước cả
Càng thương yêu càng không vừa ý với
mọi điều”.

Có một điều nhiều người biết, nhưng tôi cho rằng hiện tượng này cần nghĩ sâu hơn. Đó là, dường như không nơi nào có nhiều ngôi mộ của các thương nhân ngoại quốc như ở Hội An (chứ không chỉ là những nghĩa trang dành cho binh lính liên quân Pháp - Tây Ban Nha nằm lại sau khi nổ những phát súng xâm lược đầu tiên vào năm 1858).
Ngay từ khi còn là Đại Chiêm Hải Khẩu từ thế kỷ 2, nơi đây đã là một thương cảng sầm uất. Đến thời hoàng kim của các chúa Nguyễn cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17, Hội An trở thành một trong những thương cảng lớn bậc nhất châu Á, với các thương khách, thương thuyền tấp nập đến từ năm châu.
Điều đó tạo nên một “khuôn diện khác” trong cốt cách người xứ Quảng, đó là rất khôn ngoan, khôn khéo trong giao tiếp thương mại, buôn bán làm ăn; chứ không chỉ “thô ráp, cục hòn, ngang ngang hay cãi” như lâu nay không ít người vẫn quan niệm.
Khiến tôi chợt nhớ đến chiếc chén Khổng Tử từng bắt gặp tại nhà cổ Tấn Ký (số 101 Nguyễn Thái Học, Hội An) từ đôi mươi năm trước. Một chiếc chén bằng đất nung men trắng, trang trí hoa văn khá đơn giản, giống như mọi chiếc chén uống trà khác. Điều kỳ lạ chỉ xảy ra khi rót nước vào chén. Nước rót vào khoảng tám phần chén thì bình thường, nhưng chỉ cần rót thêm chút xíu nữa, lập tức toàn bộ nước bên trong tự động tháo hết ra ngoài từ một lỗ nhỏ nơi đáy chén.
Sở dĩ gọi là chén Khổng Tử (The Cup of Confucius) bởi nó được gắn với một giai thoại đặc biệt lý thú. Khổng Tử, trong thời chu du thiên hạ, khi qua sa mạc được một ông lão cho mượn chiếc chén này để uống nước. Nhưng cứ mỗi lần múc đầy thì chén lại lập tức cạn đáy. Từ đó, thuyết Trung Dung của họ Khổng ra đời: con người cần trung hòa, không thái quá, không bất cập.
Không phải ngẫu nhiên triết lý thông thái ấy lại được lưu giữ dưới một nếp nhà cổ Hội An.
Đó mới chính là chiều sâu, mạch ngầm trong “tính cách biên viễn, tiền đồn” của người xứ Quảng.