ĐNO - Giữa muôn vàn di sản tinh thần mà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng để lại, bài diễn văn đáp từ trong tiệc trà tại Tam Kỳ ngày 10/7/1926 - ngay sau khi cụ trúng cử Viện Dân biểu Trung kỳ - vẫn vẹn nguyên giá trị thời đại. Đó không chỉ là một lời cảm tạ bầu cử mà là bản tuyên ngôn sắc bén về thể chế đại nghị, ý thức công dân và triết lý phụng sự của người trí thức dấn thân.

Thức tỉnh ý thức công dân giữa thời biến đổi
Từ thập niên 1920, trước làn sóng thời cuộc chuyển dịch mạnh mẽ, cụ Huỳnh thấu suốt quy luật sinh tồn khắc nghiệt buổi "năm châu chung chợ, sáu giống một nhà" (thành ngữ). Với nhãn quan sâu sắc, cụ vạch rõ di hại nặng nề của chế độ quân chủ chuyên chế thâm căn, làm người dân thụ động, coi việc nước là chuyện riêng của triều đình, quan lại, rồi sinh ra bản tính tai hại: "không biết nước là cái gì" (Huỳnh Khâm xb, 1926, Tập diễn văn của ông Hoàng Thúc Kháng, tr. 1).
Khi chính quyền thuộc địa buộc phải nhượng bộ, mở ra thể chế đại nghị tại Trung Kỳ, cụ Huỳnh đã nắm bắt cơ hội ấy nhằm đưa ngọn gió văn minh thổi tan lớp mây mù ươn hèn. Bốn chữ "Nhân-dân Đại-biểu" lần đầu tiên chính danh xuất hiện trên dải đất miền Trung chịu nhiều kìm kẹp. Dù thể chế mới mẻ này còn nhiều trắc trở, nhưng cụ xem đây là nấc thang bắt buộc của một dân tộc đang "tập bò" để rồi biết đi, biết chạy trên con đường dân chủ và tự cường.
Đứng trước sự tín nhiệm tuyệt đối của cử tri 3 phủ huyện Tam Kỳ, Thăng Bình, Tiên Phước với hơn 600/640 lá phiếu, người ta không thấy ở cụ sự đắc thắng của một chính khách thông thường, mà là một tâm trạng xúc động nghẹn ngào, "nửa vui nửa buồn".
Cụ vui bởi nhìn thấy niềm tin và công lý vẫn tiềm tàng bền bỉ trong lòng đồng bào. Chỉ mới đây, khi phong trào Duy Tân bị đàn áp khốc liệt, bản thân bị đày ra Côn Đảo, người đời nghe tên cụ còn phải rùng mình, tránh xa vì sợ liên lụy gia sản, thân tộc. Thế nhưng giờ đây, cử tri đã dũng cảm công khai bỏ phiếu cho cụ. Cụ ví lòng dân và lẽ phải như "hạt giống nằm dưới đất, dầu cho vùi lấp đến thế nào, được một trận mưa mát mẻ thì phát mầm ra ngay".
Bao trùm lên niềm vui ấy là một nỗi buồn sâu sắc, nỗi trăn trở đau đáu của một kẻ sĩ ưu thời mẫn thế. Cụ khiêm nhường tự nhận mình chỉ là "anh hủ Nho sống sót", sau những năm đày ải nơi ngục tối đã mòn mỏi tinh thần, học thức chẳng tăng thêm. Cụ buồn và đau xót khi thấy quê nhà qua bao năm canh tân vẫn chưa đào tạo nên được lớp thanh niên mới đủ tài trí, bản lĩnh để gánh vác việc chung, để rồi lại dồn hết trách nhiệm lên vai một ông già "chết đi sống lại" với "hai bàn tay trắng và một tấm lòng già". Nước mắt cụ rơi không phải vì xúc động trước vinh hoa, mà vì cảm giác cô đơn và gánh nặng ngàn cân trước tiếng kêu cứu của đồng bào lầm than giữa cơn bão táp thời cuộc.
Chiếc đồng hồ dân chủ và bài học thực nghiệp, khai trí
Để thức tỉnh quốc dân, cụ Huỳnh đã đưa ra hình tượng ẩn dụ kinh điển về mối quan hệ giữa cử tri và người đại diện: Chiếc đồng hồ dân chủ: "Gọi là Nhơn-dân Đại-biểu, thì mặt trước là Đại biểu, mặt sau lưng là Nhơn-dân. Ví như đồng hồ, Đại biểu là cây kim chỉ giờ, mà máy móc xu trục ở bề trong là nhơn-dân".
Một cây kim dù có làm bằng vàng ròng, tinh xảo đến đâu cũng trở nên vô dụng nếu bộ máy cơ khí bên trong bị gỉ sét, ngừng vận động. Đại biểu không thể làm nên trò trống gì nếu phía sau là một khối quần chúng bàng quan, phó mặc. Qua đó, cụ Huỳnh tha thiết kêu gọi đồng bào phải tự cứu lấy mình, phải kiên quyết từ bỏ thói hư tật xấu, dốc lòng vào công cuộc trị sinh (phát triển kinh tế, thực nghiệp) và khai trí (mở mang học thuật, tri thức), đồng tâm hiệp lực vì lòng yêu nước thương nòi. Đó mới là phương thuốc căn cơ chữa lành căn bệnh suy nhược của giống nòi, biến thể chế mới thành thực chất chứ không phải là một "bánh vẽ" mị dân.
Chính từ nền tảng tư tưởng ấy, sau khi rời Viện Dân biểu vì nhận rõ sự trói buộc của chính quyền bảo hộ, cụ Huỳnh đã lập ra Công ty Huỳnh Thúc Kháng và sáng lập báo Tiếng Dân tại Huế vào năm 1927. Suốt 16 năm trường tồn (1927 - 1943), Tiếng Dân đã biến những trăn trở tại tiệc trà Tam Kỳ thành ngọn hải đăng khai dân trí, phản ánh trung thực tiếng nói của nhân dân và kiên định đấu tranh bằng ngòi bút ôn hòa, sắc sảo.
Khát vọng chấn hưng từ di sản của tiền nhân
Tròn một thế kỷ rưỡi nhìn lại nhân ngày sinh của cụ Huỳnh (1876 - 2026), đọc lại những dòng gan ruột tại tiệc trà Tam Kỳ năm 1926, càng thấm thía phẩm cách cao khiết và tầm nhìn vượt thời gian của nhà chí sĩ xứ Quảng. Từ người đỗ đại khoa từ khước chốn quan trường, cựu tù Côn Đảo bất khuất, Viện trưởng Viện Dân biểu, chủ bút Tiếng Dân, cho đến khi đảm nhận trọng trách Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946, cụ luôn giữ trọn lòng trung vì dân vì nước.
Ngày nay, bài học về chiếc kim đồng hồ và cỗ máy quốc dân vẫn mang tính thời sự nóng hổi. Công cuộc đổi mới và phát triển đất nước hôm nay đòi hỏi mỗi công dân phải tự giác bồi đắp tri thức, tự cường về kinh tế và nêu cao trách nhiệm xã hội. Tinh thần "trị sinh khai trí", tinh thần phản biện đĩnh đạc và bản lĩnh tự chủ của cụ Huỳnh luôn là ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ hôm nay trên hành trình xây dựng Tổ quốc phồn vinh, văn minh và tiến bộ.
* Những chữ in nghiêng trong bài trích trong "Tập diễn văn của ông Hoàng Thúc Kháng, Huỳnh Khâm xb, 1926".