ĐNO - Sáng 14/11, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự thảo Luật Xây dựng. Đại biểu Dương Văn Phước, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng tham gia góp ý nhiều nội dung vào dự thảo luật.

Dự thảo Luật Xây dựng gồm 8 chương, cụ thể: Chương I. Quy định chung; Chương II. Quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng; Chương III. Quy định về giấy phép xây dựng; Chương IV. Quy định về xây dựng công trình; Chương V. Quy định về chi phí xây dựng và hợp đồng xây dựng; Chương VI. Quy định về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng; Chương VII. Quy định về trách nhiệm quản lý hoạt động đầu tư xây dựng của các cơ quan nhà nước; Chương VIII. Điều khoản thi hành.
Để hoàn thiện dự thảo luật, đại biểu Dương Văn Phước góp ý nhiều nội dung, cụ thể như sau:
Thứ nhất, tại khoản 1, Điều 9 dự thảo luật quy định: “Đối với dự án đầu tư công, chủ đầu tư là Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trực thuộc người quyết định đầu tư hoặc cơ quan, tổ chức được người quyết định đầu tư giao tổ chức, quản lý dự án đầu tư xây dựng”.
Theo đại biểu, việc quy định như trên cơ bản đã làm rõ mô hình chủ đầu tư đối với dự án đầu tư công. Tuy nhiên, nội dung “cơ quan, tổ chức được người quyết định đầu tư giao tổ chức, quản lý dự án đầu tư xây dựng” còn chung chung, chưa quy định rõ phạm vi, tiêu chí, điều kiện để áp dụng. Điều này có thể dẫn đến việc giao chủ đầu tư không thống nhất giữa các bộ, ngành, địa phương; đồng thời, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của các cơ quan, tổ chức được giao.
Để bảo đảm tính chuyên nghiệp, hiệu quả trong việc thực hiện các dự án đầu tư xây dựng; đồng thời, không làm ảnh hưởng đến hoạt động chuyên môn của cơ quan, tổ chức, đại biểu đề nghị Ban soạn thảo bổ sung quy định giao Chính phủ quy định chi tiết các tiêu chí, điều kiện và trường hợp người quyết định đầu tư được giao cơ quan, tổ chức khác (ngoài Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng) làm chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng
Thứ hai, liên quan đến việc phân loại dự án đầu tư, tại khoản 1, Điều 17 dự thảo quy định: 5 hình thức đầu tư, trong đó có dự án PPP. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư thì dự án PPP là “phương thức” đầu tư chứ không phải là “hình thức” đầu tư. Do đó, đại biểu đề nghị nghiên cứu thống nhất thuật ngữ giữa các quy định pháp luật.
Thứ ba, đối với việc khảo sát xây dựng, Điều 21 dự thảo luật quy định khảo sát xây dựng, gồm 5 loại khảo sát, như: Khảo sát địa hình; Khảo sát địa chất công trình, địa chất thủy văn; Khảo sát thủy văn… Đại biểu cho rằng, trong thực tiễn hiện nay nguồn vật liệu đắp nền, cát, đá... rất khan hiếm, làm chậm tiến độ và tăng tổng mức đầu tư so với ban đầu; do đó, đại biểu đề nghị bổ sung 1 khoản mới vào dự thảo luật quy định theo hướng: “Khảo sát nguồn vật liệu sử dụng cho dự án”.
Thứ tư, về sơ bộ tổng mức đầu tư xây dựng, tổng mức đầu tư xây dựng quy định tại Điều 74, theo đại biểu, nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất, thuận lợi cho việc triển khai thực hiện dự án và tránh phải điều chỉnh nhiều lần về chủ trương đầu tư, đề nghị bổ sung quy định về việc xử lý trong trường hợp tổng mức đầu tư xây dựng được xác định chính thức vượt sơ bộ tổng mức đầu tư xây dựng được xác định tại giai đoạn chuẩn bị đầu tư.
Đồng thời, đại biểu đề nghị cần xem xét điều chỉnh các điều khoản tương ứng trong Luật Đầu tư công để đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư và xây dựng.

Thứ năm, đối với hợp đồng xây dựng được quy định từ Điều 79 đến Điều 86 về hợp đồng xây dựng, đại biểu cho rằng, hợp đồng xây dựng là một trong các loại hợp đồng đã được Luật Đấu thầu quy định. Theo đó, đề nghị tiếp tục rà soát để đảm bảo thống nhất và tránh chồng chéo trong hệ thống luật.
Cuối cùng, về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng được quy định tại Chương VI từ Điều 87 đến Điều 89, theo đại biểu, việc quy định về cấp chứng chỉ hành nghề như hiện nay đang bộc lộ nhiều hạn chế trong thực tiễn và cần được nghiên cứu đổi mới căn bản.
Cụ thể, quy trình cấp chứng chỉ hành nghề hiện nay phát sinh rất nhiều thủ tục hành chính, gây khó khăn cho cá nhân tham gia hoạt động xây dựng. Dù mất thời gian và chi phí để xin cấp chứng chỉ, nhưng khả năng kiểm soát năng lực thực tế lại chưa hiệu quả.
Đại biểu đánh giá, hiện nay còn tồn tại tình trạng làm đẹp hồ sơ để được cấp chứng chỉ nhưng năng lực chuyên môn hạn chế vẫn xảy ra; trong khi đó, những người có chứng chỉ giống nhau lại được xem có trình độ như nhau, không phản ánh đúng sự khác biệt về kinh nghiệm, năng lực sáng tạo hay khả năng áp dụng công nghệ mới. Đặc biệt, yếu tố đạo đức nghề nghiệp - vốn rất quan trọng đối với các chức danh hành nghề, hiện chưa được xem xét một cách đầy đủ.
Thực tế cho thấy chứng chỉ hành nghề không phản ánh chính xác trình độ của kỹ sư đảm nhiệm các vị trí như chủ nhiệm đồ án, chủ trì thiết kế…; mà năng lực thực sự phụ thuộc chủ yếu vào kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn, kỹ năng nghiên cứu và khả năng tiếp cận khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ mới.
Từ những bất cập nêu trên, đại biểu Dương Văn Phước đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu không tiếp tục áp dụng cơ chế cấp chứng chỉ hành nghề như hiện nay, mà chuyển sang mô hình quản lý năng lực theo hướng đánh giá thực tế qua công trình đã tham gia, cụ thể theo hướng:
- Khi công trình hoàn thành, chủ đầu tư có trách nhiệm lập Báo cáo năng lực nhân sự tham gia dự án, bao gồm nhân sự của chủ đầu tư, tư vấn khảo sát, thiết kế, giám sát, thi công…
- Trên cơ sở báo cáo này, từng cá nhân cập nhật thông tin vào hệ thống dữ liệu điện tử quốc gia (có thể tích hợp với VNeID).
- Dữ liệu số hóa này được xem như chứng chỉ năng lực, có thể trích xuất sử dụng trong đấu thầu hoặc khi tham gia các dự án khác. Việc sử dụng dữ liệu cần được quy định tiêu chí cụ thể, tương tự như tiêu chí xét chứng chỉ hiện nay nhưng minh bạch và phản ánh đúng năng lực thực tiễn hơn.
Đồng thời, người quyết định đầu tư và chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm về việc lựa chọn các tổ chức, cá nhân có năng lực phù hợp khi giao nhiệm vụ tư vấn, thiết kế, thẩm tra, thi công.
Ngoài ra, đại biểu cũng đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định về năng lực của chủ đầu tư, cũng như năng lực của các chuyên gia, cá nhân thẩm tra thiết kế công trình, để bảo đảm tính đầy đủ và đồng bộ trong hệ thống quản lý năng lực hoạt động xây dựng.