ĐNCT - Có một câu hỏi cứ trở đi trở lại trong câu chuyện của Nghệ nhân Nhân dân Huỳnh Sướng rằng mai này ai sẽ nối tiếp làm nên những âm thanh làng nghề truyền thống như Kim Bồng?
Có một câu hỏi cứ trở đi trở lại trong câu chuyện của Nghệ nhân Nhân dân Huỳnh Sướng rằng mai này ai sẽ nối tiếp làm nên những âm thanh làng nghề truyền thống như Kim Bồng?
Câu hỏi ẩn chứa cả nỗi lo.
Kim Bồng không phải làng nghề mới được tạo dựng để phục vụ du lịch. Nghề mộc ở đây gắn với lịch sử hình thành và phát triển của thương cảng Hội An, tạo nên hệ thống kỹ thuật, kỹ năng và tri thức nghề được tích lũy qua nhiều thế hệ.
Giờ đây Kim Bồng đã bước vào một hành trình khác. Từ ngày 1/6/2025, tour tham quan làng mộc chính thức hoạt động. Du khách có thể vào xưởng xem người thợ chế tác, trải nghiệm một số công đoạn, nhìn thấy những sản phẩm gỗ và cả không gian làng quê vẫn còn giữ được dấu vết của nghề xưa. Lễ giỗ tổ nghề mộc vào ngày 12 tháng Giêng hằng năm cũng trở thành một dịp để nghề được kể lại bằng nghi lễ, bằng trình diễn và bằng những cuộc gặp gỡ với du khách.
Tín hiệu ấy đáng mừng.
Nhưng trong tham luận“Bảo tồn và phát triển làng mộc Kim Bồng gắn với du lịch: thực trạng và giải pháp” của Nghệ nhân Nhân dân Huỳnh Sướng gửi đến hội thảo mới đây về phát triển công nghiệp văn hóa, ông chỉ ra một thực tế rằng nhiều nghệ nhân gạo cội ngày càng lớn tuổi, trong khi lực lượng kế cận còn mỏng. Một số người trẻ không tiếp tục theo nghề hoặc chuyển sang việc khác. Nếu không có giải pháp đào tạo, thu hút, duy trì thế hệ kế nghiệp, sẽ dẫn đến đứt gãy quá trình truyền nghề.
Có lẽ đây là nỗi trăn trở mà một làng mộc nổi tiếng khác như Văn Hà ở vùng Hà Đông, nam Đà Nẵng, đã từng trải và không vượt qua được, dẫn đến lụi tàn.
Bởi một nghề thủ công không chỉ là kỹ thuật. Nghề là ký ức. Và ký ức ấy chỉ thật sự sống khi có người tiếp nhận.
Nhiều làng nghề truyền thống như Kim Bồng cũng đang đứng trước bài toán là làm thế nào để đổi mới mà không đánh mất mình. Thị trường cần những sản phẩm nhỏ hơn, tinh xảo, tiện dụng hơn; du khách cần những trải nghiệm mới; người trẻ cần một nghề có thể tạo ra thu nhập và cơ hội phát triển. Vì vậy, những sản phẩm của Kim Bồng như ghe bầu, mâm gỗ, đèn trang trí, hình tượng 12 con giáp hay các biểu tượng văn hóa Việt Nam đã xuất hiện bên cạnh những sản phẩm chạm khắc truyền thống.
Đổi mới là cần thiết. Nhưng đổi mới đến đâu để vẫn còn nhận ra Kim Bồng?
Đó là ranh giới không dễ dàng. Chính bản tham luận cũng nhìn nhận sự khác biệt giữa yêu cầu thích ứng với thị trường và yêu cầu bảo tồn tính nguyên bản của nghề có thể tạo nên những xung đột nhất định.
Có lẽ người nghệ nhân hiểu điều ấy hơn ai hết. Họ không muốn nghề đứng yên trong quá khứ. Nhưng họ cũng không muốn một ngày nào đó cái tên Kim Bồng vẫn còn trên bản đồ du lịch mà hồn nghề đã vắng khỏi những xưởng mộc.
Bởi vậy, giữ nghề không thể chỉ là giữ sản phẩm. Cũng không thể chỉ là dựng lại một không gian làng nghề cho đẹp mắt du khách. Điều cần giữ trước hết là con người của nghề.
Huỳnh Sướng đề xuất phải đào tạo lớp trẻ, nhưng không chỉ dạy họ kỹ thuật. Người trẻ cần được trang bị thiết kế, kinh doanh, truyền thông và kỹ năng du lịch để có thể đưa nghề truyền thống bước vào đời sống đương đại nhưng cần biết giữ tinh hoa của nghề cha ông truyền lại.
Không riêng ông Sướng chưa thấy… sướng, khi còn đầy trăn trở về nghề. Như Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Tiếp, Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ thành phố, từng nói: “Người nghệ nhân chính là kho tàng tri thức sống của mỗi làng nghề. Nếu không có lớp nghệ nhân kế cận, việc bảo tồn sẽ rất khó bền vững”.
Cùng với bề dày lịch sử xứ Quảng, những làng nghề vẫn nằm đó như những mạch ngầm của ký ức. Kim Bồng, Non Nước, những làng gốm, làng nghề thủ công... mỗi nơi giữ một phần câu chuyện về cách người xưa đã sống, làm ăn, sáng tạo và gửi lại cho hôm nay.
Có thể tương lai những sản phẩm ấy sẽ khác với công nghệ khác. Cách làm nghề cũng sẽ khác. Nhưng điều quan trọng là trong sự đổi thay ấy, đừng để mất cái hồn đã làm nên nghề. Và có lẽ, đó cũng là điều khiến nhiều nghệ nhân đã đi gần hết một đời với nghề vẫn còn tâm tư.