ĐNCT - Chân dung văn nghệ (NXB Hội Nhà văn, 3/2026) là tập bút ký của nhà văn Thái Bá Lợi viết về 16 chân dung văn nghệ sĩ trong và ngoài nước.

Là người khá gần gũi, thân quen với nhà văn Thái Bá Lợi từ mấy chục năm qua, cầm quyển sách Chân dung văn nghệ của ông trên tay, tôi lập tức nhận ra hầu hết nhân vật nơi đây dường như mình đã có dịp đọc, hoặc nghe tác giả kể qua trong những dịp đàn đúm, rượu trà.
Bởi dù là viết hay nói, khi nhắc về một nhân vật nào đó, Thái Bá Lợi luôn có biệt tài đúc kết lại những đặc tính tiêu biểu, những tình tiết độc đáo... để đem đến người theo dõi những ấn tượng khó phai về nhân vật ấy.
Điển hình nhất trong tập sách, là bài viết về nhà văn Nguyễn Tuân, dường như ban đầu tôi đã được đọc với tựa đề Ngày Nguyễn Tuân ra đi in trên Báo Thanh Niên ngay sau khi nhà văn này vừa qua đời (28/7/1987).
Chuyện về Nguyễn Tuân thì tình tiết nào cũng đặc sắc, nhưng tôi nhớ nhất đến cái việc sính chữ nghĩa qua câu chuyện ông giải thích hai chữ "nội" và "ngoại" khi cùng một người bạn chờ phà trên bến Mỹ Thuận.
“Nội” nói về giống cha, thuộc về lý trí, là sự khuôn phép. Còn “ngoại” là giống mẹ, là tiếng nói của lòng mình.
Vừa ngay lúc ấy, bọn trẻ bán chả xô đến mời: “Nội ơi, nội ơi mua cho con chục chả”, ông không để ý, bỗng có một bé gái nói: “Ngoại ơi, mua cho con chục chả" thì ông rút tiền ra mua liền. Nguyễn Tuân chết vì chữ nghĩa là vậy.
Với nhà văn Nguyễn Văn Xuân, ngoài những kỷ niệm vui, độc đáo mà Thái Bá Lợi ấn tượng nhất trong mấy chục năm khi nhà văn còn sống, nhận định về hành trình sáng tác Nguyễn Văn Xuân, ông đặc biệt lưu ý:
“Bão rừng và Kỳ nữ họ Tống là hai tác phẩm tiêu biểu cho hai giai đoạn sáng tác của Nguyễn Văn Xuân. Cùng với những đóng góp phong phú của ông ở các thể loại khác như truyện ngắn, nghiên cứu, biên khảo, hai tiểu thuyết này xứng đáng để tôn vinh ông là nhà tiểu thuyết đặc sắc viết về dải đất miền Trung trên văn đàn Việt Nam.
Không phải bất cứ lúc nào, những chục năm, nhiều chục năm nền văn học chúng ta có ngay những tác phẩm ấy”.
Đối với kiến trúc sư Ba Lan Kazimierz Kwiatowski mà chúng ta thường biết qua tên Kazik (1944-1997), Thái Bá Lợi cho biết, ông đã có cơ duyên tiếp cận Kazik từ những ngày đầu tiên ông này đến Hội An.
Nhiệm vụ của Kazik là ở Mỹ Sơn, các tháp Chăm chứ không phải Hội An, nhưng khi tiếp cận Hội An ông gắn bó sâu sắc với đô thị cổ này: “Ông thường nói với chúng tôi Hội An là kho báu của nhân loại, chúng mày phải ra sức giữ gìn nó. Ông viết hàng chục bài báo trên diễn đàn thế giới. Ông tư vấn cho các dự án tu bổ giữ gìn Hội An. Ông tham gia làm hồ sơ để năm 1999 để Hội An được công nhận là di sản thế giới. Để nhớ ơn ông, Hội An đã dựng phù điêu vinh danh Kazik ở trung tâm phố cổ”.
Thái Bá Lợi được mời viết mấy câu dưới phù điêu, tuy nhiên ông không hiểu sao người ta lại bỏ đoạn nói việc Kazik đã phát hiện ra vẻ đẹp không trùng lắp của Hội An, dù đoạn đó chỉ khoảng 100 từ.
Ở Mỹ Sơn, Kazik làm việc quần quật suốt ngày. Trường phái trùng tu của Kazik là không bao giờ tái hiện như thật những gì đã mất mà chỉ giữ chắc những gì còn lại.
Năm 1997 Kazik được tài trợ từ Ba Lan để trùng tu Thế Miếu (Huế) và ông mất tại đó sau một cơn nhồi máu cơ tim.
Thái Bá Lợi viết: “Cái chết của ông làm sững sờ không chỉ với giới khảo cổ, trùng tu, các kiến trúc sư và các nhà khoa học lịch sử mà đến cả những người dân miền Trung, người dân Đà Nẵng, Huế dù chỉ mới gặp Kazik một lần hoặc chỉ mới nghe tên ông. Nhiều người đã khóc. Tôi hiểu rằng khó có người nào thay thế được ông trong tâm khảm mình. Kazik là người hiếm có khó gặp trên đời này”.
Đối với những nhân vật như Nguyễn Chí Trung, Nguyễn Minh Châu, Thu Bồn, Trần Vũ Mai, Nguyên Ngọc, Đào Trọng Khánh, Lê Công Thành, Nguyễn Thế Vinh…
Trong itu, có những người dù là cấp trên, hay đồng nghiệp cùng Thái Bá Lợi chia sẻ ngọt bùi trong những tháng ngày chiến tranh gian khổ, ông luôn dành những trang viết trân trọng, chăm chút, nhưng không quên bỏ qua những tình tiết sâu sắc, đôi khi hóm hỉnh, có lúc lại khiến ta cười ra nước mắt.
Điển hình như ở đoạn viết về Trần Vũ Mai: “Mỗi khi cầm bút viết tôi có thói quen hình dung ra một ai đó đang đọc mình, đang nghiêm khắc theo dõi những dòng mình viết.
M. Gorki nói: “Khi viết anh nên nghĩ đang viết cho kẻ thù đọc. Vì với kẻ thù anh sẽ thận trọng và mạnh mẽ hơn so với bạn bè”.
Tôi không có kẻ thù, nên khi viết tôi chỉ nghĩ tới Mai, hình dung ra anh sẽ khen câu này, chê câu kia, nên khi anh ra đi tôi thực sự cảm nhận được sự trống vắng mỗi lần ngồi trước trang giấy”.
Với những đồng nghiệp ngang lứa, ngang vai hoặc có khi ở thế hệ sau, trong quan hệ giao du, khi đã thấu hiểu đồng cảm, Thái Bá Lợi không ngần ngại dành cho họ vị trí xứng đáng nhất trong tâm tư, suy nghĩ của mình. Đó là các bài viết về Vũ Hữu Định, Nguyễn Lâm Huệ, Đoàn Tuấn.
Là ngươi lính từng vào sinh ra tử trong cuộc chiến trước 1975, Thái Bá Lợi cho biết, khi đọc bản thảo Lời nguyện cầu cho những linh hồn phiêu dạt (NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2022) của Đoàn Tuấn, ông có cảm giác một niềm vui, vì không còn phải lăn tăn viết một cuôn sách về chiến trường K, vì tác phẩm của Đoàn Tuấn làm rồi.
Nhìn chung, 16 chân dung văn nghệ qua bút ký của Thái Bá Lợi phác họa trong tập sách phần lớn đều đã qua đời (ngoại trừ hai trường hợp: nhà văn Nguyên Ngọc và nhà văn Đoàn Tuấn).
Tuy nhiên, với Thái Bá Lợi, đó là những gương mặt ông may mắn được gặp để lúc nào cũng có một không gian thầm kín suy ngẫm về con người, về những thăng trầm mà một đời người trải qua, để thấm thía những ngày đang sống an lạc hiện tại, chống chọi với những sóng gió đi qua một cách kiên cường, bản lĩnh dù chưa được giải thoát nhưng cũng có niềm vui.
Mà niềm vui sau khi vượt qua trắc trở, gập ghềnh bao giờ cũng sâu lắng và đậm đà.