Giá nông sản 21/10: Giá cà phê Tây Nguyên 20/10 ổn định, phớt lờ Robusta London giảm sâu. Hồ tiêu 'phá băng' đà đi ngang, tăng nhẹ, đạt trung bình 145.500 đồng/kg.
Giá cà phê trong nước duy trì ổn định, trong khi thị trường quốc tế chứng kiến sự tăng giảm trái chiều giữa robusta và arabica. Giá tiêu nội địa ghi nhận mức tăng nhẹ, đạt trung bình 145.500 đồng/kg, phản ánh nguồn cung ổn định và nhu cầu xuất khẩu mạnh mẽ.
Tại khu vực Tây Nguyên, giá cà phê hôm nay dao động từ 113.500 đến 114.500 đồng/kg, không thay đổi so với ngày 19/10. So với đầu tuần, giá tăng nhẹ từ 500 đến 700 đồng/kg. Cụ thể, Đắk Lắk ghi nhận mức cao nhất với 114.500 đồng/kg, không biến động. Gia Lai giao dịch ở mức 114.000 đồng/kg, giữ nguyên. Lâm Đồng đạt 113.500 đồng/kg, ổn định so với phiên trước.

Trên sàn giao dịch London, giá cà phê robusta giảm nhẹ trong các hợp đồng kỳ hạn. Hợp đồng tháng 11/2025 đạt 4.552 USD/tấn, giảm 1,33%, tương đương 62 USD/tấn. Hợp đồng tháng 1/2026 ở mức 4.478 USD/tấn, giảm 1,01%, tương đương 46 USD/tấn. Hợp đồng tháng 3/2026 đạt 4.399 USD/tấn, giảm 1,07%, tương đương 48 USD/tấn. Hợp đồng tháng 5/2026 chốt ở 4.334 USD/tấn, giảm 1,09%, tương đương 48 USD/tấn. Hợp đồng tháng 7/2026 thấp nhất, đạt 4.279 USD/tấn, giảm 1,01%, tương đương 44 USD/tấn.
Ngược lại, trên sàn New York, giá cà phê arabica tăng nhẹ. Hợp đồng tháng 12/2025 đạt 397,45 US cent/pound, tăng 0,93%, tương đương 3,65 US cent/pound. Hợp đồng tháng 3/2026 ở mức 375,60 US cent/pound, tăng 0,59%, tương đương 2,20 US cent/pound. Hợp đồng tháng 5/2026 đạt 360,35 US cent/pound, tăng 0,31%, tương đương 1,10 US cent/pound. Hợp đồng tháng 7/2026 đạt 346,00 US cent/pound, tăng 0,26%, tương đương 0,90 US cent/pound. Hợp đồng tháng 9/2026 thấp nhất, đạt 332,90 US cent/pound, tăng 0,32%, tương đương 1,05 US cent/pound.
Phiên giao dịch cuối tuần phản ánh sự biến động do các yếu tố đối lập. Rủi ro mùa vụ tại Brazil, bao gồm hạn hán ở Minas Gerais, tồn kho arabica thấp kỷ lục ở mức 467.110 bao và dự báo thâm hụt 8,5 triệu bao cho niên vụ 2025/26, đã đẩy giá tăng. Tuy nhiên, triển vọng nguồn cung robusta từ Việt Nam, nhờ mưa lớn ở Tây Nguyên, cùng tin đồn gỡ thuế giữa Mỹ và Brazil, đã kéo giá giảm. Thị trường dự báo sẽ tiếp tục biến động mạnh, với robusta điều chỉnh sau đợt tăng nhanh và arabica có tiềm năng phục hồi do tồn kho thấp và rủi ro thời tiết.
Giá tiêu hôm nay dao động từ 144.000 đến 146.000 đồng/kg, đạt trung bình 145.500 đồng/kg sau đợt tăng mới. Tại Gia Lai, giá tiêu ở mức 144.000 đồng/kg, thấp nhất khu vực và không biến động. TP Hồ Chí Minh và Đồng Nai cùng ghi nhận mức 145.500 đồng/kg, tăng 500 đồng/kg so với phiên trước. Đắk Lắk và Đắk Nông đạt mức cao nhất với 146.000 đồng/kg, giữ nguyên.

Trên thị trường quốc tế, giá tiêu phần lớn ổn định. Tại Indonesia, tiêu đen Lampung giảm nhẹ 0,07 USD/tấn, xuống 7.228 USD/tấn, trong khi tiêu trắng Muntok giảm 0,06 USD/tấn, xuống 10.085 USD/tấn. Brazil và Malaysia không ghi nhận biến động, với tiêu đen ASTA 570 của Brazil ở mức 6.100 USD/tấn, tiêu đen ASTA của Malaysia đạt 9.500 USD/tấn và tiêu trắng ASTA của Malaysia đạt 12.500 USD/tấn.
Giá tiêu xuất khẩu của Việt Nam không thay đổi. Tiêu đen loại 500 g/l đạt 6.400 USD/tấn, loại 550 g/l đạt 6.600 USD/tấn, trong khi tiêu trắng ASTA ở mức 9.050 USD/tấn. Trong 8 tháng đầu năm 2025, EU nhập khẩu 89.036 tấn hồ tiêu từ các nước ngoài khối, trị giá 617,9 triệu EUR. So với cùng kỳ năm trước, lượng nhập khẩu giảm 1,1% nhưng giá trị tăng 42,6%, cho thấy giá tiêu tăng mạnh. Việt Nam dẫn đầu với 56.989 tấn, chiếm 64% thị phần nhưng giảm 4,5%. Brazil đạt 14.726 tấn, chiếm 16,5% và tăng 5,1%. Indonesia ghi nhận 6.484 tấn, chiếm 7,3% và tăng 10,7%. Ấn Độ đạt 4.124 tấn, chiếm 4,6% nhưng giảm 9,8%.