Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong tình hình hiện nay là một việc nan giải. Bản sắc một địa phương lại là vấn đề rất khó định hình. Lồng ghép việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa với nhiệm vụ định hình bản sắc văn hóa là một khó khăn kép!

Di sản phong phú
Sau sáp nhập, Đà Nẵng có đến 595 đơn vị di sản cần quản lý, bảo tồn, phát huy. Trong đó có 4 di sản vật thể và phi vật thể được UNESCO ghi danh, gồm: Khu đền tháp Mỹ Sơn, Đô thị cổ Hội An, Di sản hát Bài chòi Trung bộ, Di sản Ma nhai Ngũ Hành Sơn.
Bốn di tích quốc gia đăc biệt là Di tích đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh, Phật viện Đồng Dương, Thành Điện Hải, Di tích danh thắng Ngũ Hành Sơn. Ngoài ra, còn có 28 di sản văn hóa phi vật thể thuộc danh mục di sản phi vật thể quốc gia, 84 di tích quốc gia và 475 di tích thành phố, trong đó có những di tích lịch sử cách mạng rất quan trọng.
Nhìn tổng thể 595 di sản văn hóa, có thể nhận ra hai đặc điểm chung: đa dạng về không gian địa hình và trải dài liên tục qua các thời kỳ lịch sử.
Địa bàn Đà Nẵng bao trùm không gian rộng lớn, từ biển cả mênh mông đến núi rừng hùng vĩ. Ở tất cả vùng địa lý đều có những di sản tiêu biểu. Ở không gian biển, có các di sản phi vật thể như hát bả trạo ở Cẩm Thanh, Tam Hòa, lễ hội cầu ngư ở Mân Thái, nghề đan võng ngô đồng ở Cù Lao Chàm, nghề làm nước mắm Nam Ô…
Ở vùng đồng bằng, sông nước và sản xuất nông nghiệp có các di sản như lễ hội Bà Thu Bồn, nghề trồng rau Trà Quế - Hội An, nghề làm bánh tráng Túy Loan… Ở không gian rừng núi, có các di sản như múa tâng tung da dá và nói lý, hát lý của người Cơ Tu; nghi lễ dựng cây Nêu và bộ Gu của người Co, nghề dệt thổ cẩm của người Cơ Tu… Về di sản vật thể, Đà Nẵng cũng có di tích ở cả ba vùng địa lý đồng bằng, duyên hải và rừng núi.
Cùng với đặc điểm đa dạng ở các không gian, di sản của thành phố còn có tính liên tục, tiêu biểu trong các thời kỳ lịch sử. Đối với giai đoạn tiền sơ sử, Đà Nẵng có các di tích khảo cổ thuộc giai đoạn văn hóa Sa Huỳnh, cách nay hơn 2.000 năm. Giai đoạn Champa có nhiều những di tích đền tháp, đặc biệt là khu đền tháp Mỹ Sơn cùng nhiều di tích đền tháp riêng lẻ và các văn khắc tiêu biểu cho giai đoạn 1.000 năm tồn tại của văn hóa Champa tại vùng đất này.
Giai đoạn Đại Việt từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, có các di sản tiêu biểu như Hội An, Hải Vân Quan, Điện Hải và nhiều kiến trúc đền miếu. Giai đoạn hiện đại có rất nhiều di sản thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.
Định hình bản sắc
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ I (nhiệm kỳ 2025-2030), có mục tiêu “Xây dựng thành phố hiện đại, giàu bản sắc, con người Đà Nẵng nhân văn, có chất lượng cuộc sống cao”. Ở mục nhiệm vụ giải pháp trọng tâm, đặt vấn đề “Hình thành các giá trị bản sắc riêng, phù hợp với lịch sử, văn hóa, con người xứ Quảng”.
“Bản sắc văn hóa” là một khái niệm động, mang tính kiến tạo. Bản sắc của một địa phương không chỉ là những đặc trưng có sẵn, nhất thành bất biến. Nó vừa mang yếu tố cũ vừa được tạo dựng theo xu thế mới của cộng đồng và được định hình qua dòng thời gian.
Bản sắc một địa phương thường gắn liền với phạm vi địa giới ổn định qua thời gian, ví dụ như “bản sắc văn hóa Huế”, “bản sắc văn hóa Hà Nội”. Trong vài thập kỷ gần đây, với xu hướng thiết lập các thương hiệu địa phương, nhiều tỉnh, thành phố đã quảng bá một số đặc trưng văn hóa địa phương, với mong muốn tạo nên những ấn tượng riêng.
Hơn 20 năm trước, khi thành phố Đà Nẵng tách ra khỏi tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, mọi người băn khoăn tìm kiếm bản sắc cho thành phố Đà Nẵng vừa ra đời. Một hướng đi là: “Chưa có bản sắc thì làm nên bản sắc; thiếu đặc trưng thì sáng tạo đặc trưng!”; “Đào xuống đất để tìm bản sắc, bay lên trời để tạo đặc trưng!”. Qua thời gian, Đà Nẵng đã được biết đến không chỉ với những di tích Sa Huỳnh, Champa hàng ngàn năm tuổi mà còn bởi tính năng động, sáng tạo với các lễ hội pháo hoa quốc tế, liên hoan điện ảnh khu vực...
Sau sáp nhập, thành phố Đà Nẵng mới chứa đựng kho tàng di sản phong phú, có lẽ không cần phải nhọc công “đào xuống đất, bay lên trời”, nhưng vẫn đòi hỏi sự nghiên cứu, chọn lọc và cần thời gian để thử thách, định hình trong bối cảnh mới. Việc bảo tồn di sản chắc chắn có góp phần quan trọng trong việc định hình bản sắc. Thông qua việc bảo tồn và quảng bá di sản, có thể làm nổi bật một vài đặc trưng để định hình: "Cổ kính và Truyền thống, Hài hòa trong Đa dạng, Năng động và Sáng tạo".

Kết nối giá trị các di sản theo nhóm đặc trưng
Để tạo ấn tượng cần lồng ghép các hoạt động bảo tồn và quảng bá các di sản phi vật thể với các di sản vật thể liên quan; như để gây ấn tượng về đặc trưng không gian biển, cần kết hợp các hoạt động lễ hội cầu ngư, hát bả trạo với các di sản nghề nước mắm Nam Ô, với đình miếu các làng ven biển đã xếp hạng di tích cấp tỉnh.
Về đặc trưng không gian miền núi, cần kết hợp việc bảo tồn, lồng ghép hình ảnh, giá trị của các di sản vật thể và phi vật thể trong cùng một hoạt động quảng bá, phát huy giá trị.
Về tính liên tục của các thời kỳ, ngoài nhóm di tích văn hóa giai đoạn Champa và giai đoạn cận, hiện đại; Đà Nẵng cần đầu tư nghiên cứu và xác lập rõ hơn về di sản văn hóa Sa Huỳnh tại địa bàn thành phố, cả về số lượng lẫn chất lượng.
Quá trình nghiên cứu, khai quật khảo cổ trong 50 năm và kết quả đánh giá về tính chất và địa bàn phân bố di chỉ Sa Huỳnh mở rộng từ vùng ven biển đến đồng bằng và miền núi cho thấy địa bàn Quảng Nam, Đà Nẵng có những minh chứng rõ nét về sự tồn tại của nền văn hóa này trong một giai đoạn dài, từ hơn 1.000 năm trước công nguyên đến mấy thế kỷ đầu công nguyên.
Hy vọng rằng, bằng cách ứng dụng công nghệ hiện đại, các hình ảnh về di sản của thành phố sẽ tạo nên ấn tượng về một Đà Nẵng “Cổ kính và Truyền thống, Hài hòa trong Đa dạng, Năng động và Sáng tạo”.
Bên cạnh đó, thành phố cần khuyến khích các đề tài nghiên cứu khoa học về ứng dụng công nghệ vào việc số hóa, dữ liệu hóa các nội dung liên quan đến bảo tồn di sản, và quảng bá giá trị di sản.
Chống xuống cấp di tích, mai một di sản
Với số lượng hơn 500 di sản, phần lớn đã giao cho các phường, xã cũ quản lý, lại thêm cấp quận, huyện đã giải thể, có thể nói, hầu hết di tích, di sản đang trong tình trạng lỗ hổng về quản lý. Cần phải rà soát và phân công lại trách nhiệm quản lý của các cấp chính quyền trong mô hình mới. Song song với việc phân công quản lý, cũng cần rà soát những trường hợp di tích không còn đủ tiêu chí, lập thủ tục ban hành quyết định hủy bỏ xếp hạng theo quy định của Luật Di sản Văn hóa 2024.
Việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong thời kỳ hiện nay đòi hỏi một đội ngũ được đào tạo chuyên môn về các lĩnh vực di sản, lịch sử, khảo cổ, nghệ thuật và công nghệ. Hiện nay đội ngũ này ở Đà Nẵng còn hạn chế, cần có những giải pháp đãi ngộ để khuyến khích nhân lực tham gia lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị di sản; khuyến khích sự liên kết giữa ngành văn hóa, khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo. Từ đó, thu hút sự tham gia của thế hệ trẻ, sinh viên, học sinh vào công tác bảo tồn di sản; xây dựng một thế hệ công dân tương lai hiểu biết và yêu quý di sản.
Một giải pháp cuối cùng và có thể nói là quan trọng nhất, đó là xác định cơ chế tài chính rõ ràng để có đủ nguồn lực cho công việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Hiện nay, chỉ có 3 đơn vị di tích là Mỹ Sơn, Hội An, Ngũ Hành Sơn có đội ngũ nhân lực tương đối phù hợp để quản lý, phát huy giá trị; đồng thời cũng có nguồn thu để chi phí.
Một số di tích khác, mặc dù đã được xếp hạng là di tích quốc gia hay di tích quốc gia đặc biệt, nhưng đội ngũ nhân lực trực tiếp quản lý vẫn còn thiếu, không có nguồn thu, phải dựa vào nguồn ngân sách hạn chế.
Một cơ chế tài chính hợp lý sẽ góp phần đem lại hiệu quả cho việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Hoặc cân đối nguồn thu từ các di tích có thu để cấp trở lại cho các đơn vị quản lý không có nguồn thu; hoặc giao các đơn vị có thu đảm nhiệm việc quản lý, bảo tồn các di tích, di sản liên quan; hoặc bố trí nguồn ngân sách của thành phố, của chương trình mục tiêu Trung ương.
Việc thành lập Quỹ bảo tồn di sản văn hóa địa phương theo quy định Luật Di sản Văn hóa cũng có thể huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản.