Trong tâm thức và ký ức của nhiều người dân sinh ra, lớn lên tại Đà Nẵng, hình ảnh khối cầu trắng sữa như một cây nấm khổng lồ mọc trên sườn phía bắc bán đảo Sơn Trà đã trở thành một phần quen thuộc của thành phố.

Ít ai biết rằng bên dưới “cây nấm trắng” ấy là cả một hệ thống giám sát, nhận diện và dẫn đường cho máy bay dân dụng thuộc Đài ra đa sơ cấp TRAC 2000 và ra đa thứ cấp RSM 970 của Công ty Quản lý bay miền Trung.
Đúng 0 giờ ngày 1/6/2026, những tín hiệu cuối cùng từ hệ thống chính thức ngừng phát sóng. Sau 32 năm bền bỉ phục vụ, Đài ra đa Sơn Trà 1 được cho “nghỉ hưu” để nhường chỗ cho một hệ thống hiện đại hơn. Trên đỉnh núi lộng gió, công trình ấy không chỉ là một thiết bị kỹ thuật mà còn là nhân chứng đặc biệt, lặng lẽ chứng kiến hành trình chuyển mình của Đà Nẵng suốt hơn ba thập niên.

Những ngày giữa tháng Sáu, không khí tại Đài ra đa Sơn Trà 1 khác hẳn thường ngày. Từ tờ mờ sáng, chuyến xe đưa cán bộ kỹ thuật từ trụ sở Công ty Quản lý bay miền Trung men theo con đường quanh co lên đỉnh Sơn Trà. Thế nhưng, công việc giờ đây không còn diễn ra với cường độ cao như trước.
Bên ngoài khối cầu trắng, các kỹ sư lặng lẽ quan sát những thiết bị đang dần được tháo dỡ. Âm thanh quen thuộc của hệ thống điện, máy phát và thiết bị kỹ thuật đã thưa dần khi phần lớn máy móc được ngắt kết nối để chuẩn bị thay thế bằng thế hệ ra đa mới.
Trong ký ức của nhiều thế hệ người Đà Nẵng, khối cầu khổng lồ ấy hiện diện qua những buổi sớm mờ sương, vững chãi giữa những mùa bão lớn. Cùng với các hệ thống thông tin của quân đội, phát thanh - truyền hình và viễn thông trên đỉnh Sơn Trà, công trình này góp phần duy trì những “mạch máu thông tin” kết nối thành phố với thế giới bên ngoài. Trong số đó, hệ thống ra đa hàng không dân dụng đặt ở phía bắc bán đảo Sơn Trà mang một câu chuyện đặc biệt, đồng thời là nhân chứng cho quá trình phát triển của Đà Nẵng.
Ông Nguyễn Tự Lực, Đội trưởng Đội ra đa Sơn Trà (Công ty Quản lý bay miền Trung), là một trong những người gắn bó gần trọn tuổi thanh xuân với nơi này. Chứng kiến những ngày cuối cùng của hệ thống trước khi được thay thế, ông không giấu được sự bùi ngùi.
Sau năm 1975, ngành hàng không dân dụng Việt Nam còn rất nhiều khó khăn. Trước ngày 8/12/1994, quyền điều hành vùng thông báo bay (FIR) khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, từ Huế trở vào phía Nam, vẫn do nước ngoài đảm nhiệm. Để giành lại quyền điều hành bay, Việt Nam đã phải đầu tư lớn cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đào tạo nhân lực và từng bước chứng minh năng lực quản lý với cộng đồng hàng không quốc tế.
Ông Nguyễn Tự Lực cho biết, quyền điều hành bay không chỉ liên quan đến chủ quyền vùng trời mà còn gắn với lợi ích kinh tế rất lớn. Vì vậy, việc đàm phán để các tổ chức quốc tế trao trả quyền quản lý cho Việt Nam là quá trình lâu dài và không hề đơn giản. Muốn được công nhận, Việt Nam phải chứng minh năng lực kiểm soát không lưu thông qua hệ thống kỹ thuật hiện đại và đội ngũ nhân lực đủ trình độ. Đó cũng là một trong những lý do Đài ra đa Sơn Trà 1 được xây dựng trên vị trí chiến lược ở phía bắc bán đảo Sơn Trà.

Tiền thân của Công ty Quản lý bay miền Trung là Trung tâm Quản lý bay dân dụng Việt Nam, đặt tại Đà Nẵng. Trong suốt 32 năm kể từ ngày những viên gạch đầu tiên được đặt xuống, nhiều cán bộ kỹ thuật tham gia xây dựng công trình vẫn còn công tác tại đơn vị.
Các kỹ sư kể lại rằng, từ năm 1989-1990, đơn vị đã cử những cán bộ đầu tiên lên Sơn Trà vận hành một trạm thông tin liên lạc sơ khai tại vị trí sau này xây dựng đài ra đa. Khi đó chưa có hệ thống giám sát hiện đại, chỉ là các thiết bị liên lạc âm thanh đơn giản. Cũng trong giai đoạn này, một nhóm kỹ sư được cử sang Pháp đào tạo về vận hành hệ thống ra đa kiểm soát không lưu. Trong số đó có ông Nguyễn Tự Lực.
Nhớ lại những ngày đầu lên nhận nhiệm vụ, ông Lực cho biết thời điểm ấy muốn từ sân bay Đà Nẵng lên Sơn Trà phải qua phà trên sông Hàn. Qua phà, cán bộ kỹ thuật tiếp tục đến khu vực Chợ Mai để thuê xe ôm lên núi. Khi ấy, Đà Nẵng còn rất nghèo, nhà cao tầng gần như chưa có. Phía Sơn Trà chủ yếu là những dải cát trắng và các khu dân cư thưa thớt.
“Phần lớn anh em khi đó đều là kỹ sư điện tử - viễn thông mới ra trường. Được giao nhiệm vụ lên Sơn Trà ai cũng tự hào, nhưng khi chứng kiến điều kiện làm việc khắc nghiệt thì không khỏi lo lắng. Chúng tôi động viên nhau cố gắng vì nghĩ rằng đất nước còn khó khăn, mình phải góp một phần sức lực. Bây giờ nghĩ lại là cả một trời kỷ niệm”, ông Lực kể.
Dù không phải vị trí cao nhất trên bán đảo Sơn Trà, nơi đặt Đài ra đa Sơn Trà 1 lại là địa điểm lý tưởng để giám sát không lưu. Theo ông Lực, địa hình Đà Nẵng giống như một lòng chảo được bao quanh bởi các dãy núi: phía bắc là đèo Hải Vân, phía tây là dãy Trường Sơn, phía nam có nhiều dãy núi thấp xen kẽ. Riêng ở phía đông, bán đảo Sơn Trà vươn ra biển như một “tháp canh” khổng lồ, tạo điều kiện lý tưởng cho việc thu phát tín hiệu hàng không.
Trong thời chiến, khu vực này từng được xây dựng nhiều công trình thông tin quân sự kiên cố. Sau ngày đất nước thống nhất, khi triển khai nhiệm vụ giành lại quyền điều hành bay, Sơn Trà tiếp tục được lựa chọn để đặt hệ thống thông tin và ra đa hàng không dân dụng.

Trong lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Quản lý bay miền Trung, có hai cột mốc đặc biệt: ngày 8/12/1994 và ngày 1/6/2026. Sau nhiều năm chuẩn bị, ngày 8-12-1994, hệ thống ăng-ten ra đa PSR/SSR Sơn Trà 1 chính thức quay vòng đầu tiên. Dữ liệu giám sát khi đó phủ rộng từ Vinh đến Nha Trang, từ Thái Lan ra tới 250 hải lý trên Biển Đông.
Đây cũng là thời điểm Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO) công nhận Việt Nam đủ năng lực tiếp nhận và điều hành vùng thông báo bay FIR Hồ Chí Minh. Sự kiện này đánh dấu việc Việt Nam chính thức làm chủ hoàn toàn công tác điều hành bay dân dụng trên vùng trời của mình sau gần 20 năm đất nước thống nhất.
Đài ra đa Sơn Trà 1 được kết nối với các trạm khác như Tân Sơn Nhất và Quy Nhơn, tạo thành mạng lưới giám sát không lưu liên tục dọc đất nước. Từ đây, không phận dân dụng Việt Nam được quản lý thống nhất, bảo đảm an toàn và thông suốt bởi chính đội ngũ chuyên gia trong nước.
Thế hệ kỹ sư đầu tiên vận hành hệ thống sau này trở thành những chuyên gia đầu ngành, tiếp tục đào tạo và truyền nghề cho các thế hệ kế tiếp. Những người từng làm việc tại đây như ông Nguyễn Lai, ông Nguyễn Việt Thắng hay ông Phan Minh Lài cho biết, họ may mắn được chứng kiến toàn bộ quá trình phát triển mạnh mẽ của Đà Nẵng từ trên đỉnh Sơn Trà.
“Ngày xưa nhìn xuống chỉ thấy những vùng đất trống và cát trắng. Bây giờ cũng từ vị trí ấy có thể thấy các khu đô thị hiện đại, những tòa nhà cao tầng và ánh đèn rực sáng mỗi đêm. Thành phố lớn nhanh quá!”, ông Nguyễn Lai chia sẻ.
Theo Công ty Quản lý bay miền Trung, từ 0 giờ ngày 1/6/2026, hệ thống ra đa sơ cấp TRAC 2000 và ra đa thứ cấp RSM 970 chính thức ngừng hoạt động.
Toàn bộ máy móc, ăng-ten, thiết bị kỹ thuật cùng lớp vỏ cầu đặc trưng bên ngoài sẽ được tháo dỡ để thay thế bằng hệ thống ra đa thế hệ mới hiện đại hơn.
Sau 32 năm âm thầm làm nhiệm vụ, “người gác trời” trên đỉnh Sơn Trà chính thức hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.
Hiện nay, bên cạnh Sơn Trà 1, Công ty Quản lý bay miền Trung còn vận hành Đài ra đa Sơn Trà 2, được đưa vào khai thác từ năm 2016. Trong thời gian Sơn Trà 1 được tháo dỡ và thay thế, toàn bộ nhiệm vụ giám sát, điều hành bay vẫn được bảo đảm liên tục bởi Sơn Trà 2.
Đối với nhiều người Đà Nẵng, khối cầu trắng trên đỉnh Sơn Trà không chỉ là một công trình kỹ thuật. Đó còn là một phần ký ức của thành phố, một nhân chứng lặng lẽ đã canh giữ bầu trời và chứng kiến hành trình đổi thay của Đà Nẵng suốt hơn ba thập niên.