Trong ký ức của những văn nghệ sĩ Đoàn Văn công Quân giải phóng miền Trung Trung Bộ, để sống, biểu diễn ở chiến trường ngoài sự kiên trung là tinh thần cao hơn cả đèo dốc, đoàn kết: Đi cùng nhau, hát cùng nhau, sống chết cùng nhau…

Tinh thần cao hơn cả đèo dốc
Những năm tháng ác liệt ở chiến trường Khu V vẫn còn hằn in trong câu chuyện của cô Thanh Mai, ca sĩ của Đoàn Văn công Quân giải phóng miền Trung Trung Bộ. Cô Thanh Mai là người dân tộc Nùng ở Lạng Sơn, tham gia đoàn văn công từ năm 1968 đến năm 1971 thì trở ra Bắc.
Khi được hỏi đâu là sức mạnh, động lực để cô có thể vượt qua gian nan, hiểm nguy cống hiến tuổi thanh xuân trên chiến trước ác liệt này, cô nói thật giản đơn: Đi cùng nhau. Cả đoàn văn công mấy chục con người kề vai sát cánh, vượt qua lưới đạn quân thù. Và có một nỗi sợ hãi không kém gì đạn bom, đó là cái đói rã người và ý chí vượt qua đèo dốc nơi xứ Quảng.
“Dốc cứ dựng đứng, dốc nối dốc liên tiếp hiện ra. Nhiều anh chị em trong đoàn hỏi nhau tại sao xứ sở này lại có nhiều dốc đến như vậy. Hành quân trong cái đói, phải tìm củ rừng để cầm cự. Thế nhưng ai cũng sẵn sàng cất tiếng hát phục vụ bộ đội, nhân dân.
Cái chết và sự sống như sấp ngửa bàn tay. Nhiều anh chị em truyền nhau: trúng đạn chưa chắc chết, chết chưa chắc được chôn. Lẽ đó, chúng tôi chỉ biết cống hiến hết mình lời ca, tiếng hát, điệu múa, góp sức cho mùa xuân đại thắng.
Nghệ sĩ nhân dân Lê Huân
Một trong những ký ức chiến trường không thể nào quên là mình hát phục vụ bộ đội bị thương rất nặng ở các trạm xá dã chiến. Các anh bảo muốn được nghe ca sĩ đoàn văn công hát trước khi nhắm mắt”, cô Thanh Mai kể.
Về đồi dốc điệp trùng nơi xứ Quảng, nhà văn Cao Duy Thảo trong “Chiến trường” đã đề cập: “Thế là ngót hai tháng trời ngày đi đêm nghỉ, tới thời điểm phải vượt qua đỉnh Trường Sơn thêm một lần nữa đặt chân lên đất Thừa Thiên, rồi đi tiếp vào trong để biết thế nào là những con dốc Quảng Nam cao vời vợi từng được truyền tụng: Bao giờ Thanh Nghệ hết cà, Quảng Nam hết dốc…”.
Vào tháng 8/1962, cán bộ, diễn viên Đoàn Văn công Quân giải phóng miền Trung Trung Bộ bám sát đội hình các đơn vị chủ lực Quân khu V, đồng thời tham gia chiến đấu bảo vệ căn cứ, đánh bại các cuộc hành quân Lam Sơn I (8/1962), Bạch Phượng XI (4/1963) của địch vào khu căn cứ Nước Là (nay là xã Nam Trà My, thành phố Đà Nẵng), vừa tích cực sáng tác, biểu diễn. Điển hình như Thanh Anh với các ca khúc: “Du kích nhân dân”, “Tiếng hát ban mai”, “Em đi thồ”; Xuân Tâm với “Vượt sông Tiên”; Lê Viên với “Miền Nam quê hương tôi”…
Ngay sau khi ra đời vào ngày 20/3/1952, Đội Văn công Bộ đội Liên khu V (nay là Đoàn Văn công Quân khu V) đã lên đường tham gia Chiến dịch Hè - Thu 1952 tại mặt trận Bắc Quảng Nam.
Từ ngày 2/8/1962, với tên gọi Đoàn Văn công Quân Giải phóng miền Trung Trung Bộ, cán bộ, diễn viên vừa tham gia chiến đấu vừa tích cực sáng tác, biểu diễn văn nghệ, nhiều người anh dũng hy sinh nơi chiến trường.
Năm 2002, Đoàn Văn công Quân khu V vinh dự được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.
Những năm tháng 1968, thực tiễn ác liệt mặt trận Quảng Đà, đoàn văn công cho ra đời nhiều tác phẩm ý nghĩa cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân. Bao gồm múa “Người anh hùng trên bãi cát Kỳ Anh” của Lê Huân; “Bà mẹ Gò Nổi” của Phan Ngạn…
Ngoài những tên tuổi nêu trên, hạt nhân của đoàn văn công còn kể đến những thành viên nữ như Thanh Mai, Minh Phương, Trà My, Thanh Lịch… Tinh thần của các chị có lẽ “cao hơn những con dốc” mới có thể trụ lại, hát nơi chiến trường không chỉ có đạn bom mà còn khắc nghiệt bởi đói rét, rừng thiêng nước độc…
Nghệ sĩ nhân dân Lê Huân không thể nào quên những năm tháng sôi nổi nơi chiến trường trường Khu V: “Cái chết và sự sống như sấp ngửa bàn tay. Nhiều anh chị em truyền nhau: trúng đạn chưa chắc chết, chết chưa chắc được chôn. Lẽ đó, chúng tôi chỉ biết cống hiến hết mình lời ca, tiếng hát, điệu múa, góp sức cho mùa xuân đại thắng”.
Đau đáu cảm thức nghệ thuật nơi chiến trường
Hòa bình lập lại, Nghệ sĩ nhân dân Lê Huân tiếp tục gắn bó với hoạt động nghệ thuật biểu diễn. Ông quan niệm, yêu nước cũng là một di sản của người Việt, làm sao để đưa tinh thần ấy vào trong sáng tác, truyền dạy cho thế hệ sau là điều luôn đau đáu.

Một khoảnh khắc trên đường hành quân cuối năm 1968 ông không thể nào quên, đó là bộ đội đi dưới con đường rực rỡ hoa phong lan trên vùng núi phía tây xứ Quảng. Giữa mưa bom bão đạn, đồng đội có người ngã xuống, nhưng hoa phong lan vẫn nở rộ niềm tin chiến thắng.
“Trong suốt cuộc đời hoạt động nghệ thuật, con đường hoa phong lan năm ấy là hình tượng nghệ thuật đẹp nhất không gì có thể thay thế”, Nghệ sĩ nhân dân Lê Huân chia sẻ.
Chính vì cảm xúc mãnh liệt ấy, sau này khi dàn dựng các tác phẩm đề tài chiến tranh cách mạng, ông luôn lồng ghép hình tượng nghệ thuật, cảm xúc in sâu nơi chiến trường Khu V. Mới đây nhất năm 2024, ông cùng nhạc sĩ Trúc Lam dàn dựng tác phẩm “Đường hoa phong lan” cho Trung tâm Văn hóa Quảng Nam (cũ) tham gia hội thi tuyên truyền lưu động kỷ niệm 65 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh - Ngày truyền thống bộ đội Trường Sơn (19/5/1959 - 19/5/2024) và đoạt Huy chương Vàng.
“Tôi không bao giờ quên 4 chiến sĩ dẫn đường cho Đoàn Văn công Quân giải phóng miền Trung Trung Bộ gồm 30 người hành quân vào Quảng Ngãi năm 1970. Trên đường đi, chúng tôi ngang qua khu vực địch phục kích nhưng may mắn an toàn. Sáng sớm sau khi bàn giao đoàn cho đơn vị khác, 4 chiến sĩ quay về thì hy sinh. Chúng tôi bàng hoàng nhìn nhau, các anh đã nằm lại cho chúng tôi sự sống.
Chính vì vậy trong suốt những năm tháng làm nghệ thuật sau này, lúc nào tôi cũng đau đáu về chiến trường xưa, về những đồng chí, đồng đội đã ngã xuống để có được màu xanh hòa bình. Và trong dòng tác phẩm cách mạng, tôi không cho phép mình quên đi điều ấy khi sáng tác”, ông chia sẻ.
Nghệ sĩ nhân dân Lê Huân nói, trong 4 tác phẩm xét Giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật của ông vào năm 2007, có đến 2 tác phẩm sáng tác trong chiến trường Khu V.
Bởi sáng tác, biểu diễn cho quân dân nơi mặt trận vô cùng ác liệt lúc nào nghệ sĩ cũng mang tâm thế của một người lính sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc. Và với riêng ông, tác phẩm ra đời trong cuộc chiến giành độc lập luôn lấp lánh một cách riêng và đầy ý nghĩa.