Hồ sơ - Tư liệu

Ký ức Phù sa

NHƯ HẠNH • 25/10/2026 08:30

ĐNCT - Một giọt nước nhỏ bé từ mây trời rơi xuống, dòng sông dần được hình thành. Một hạt phù sa lặng lẽ đắp bồi, đất đai neo đậu thành ruộng đồng, làng mạc. Thế rồi theo thời gian chảy trôi, những miền ký ức in đậm dấu ấn văn hóa đó được trao truyền cho con dân các thế hệ mai sau kế tục giữ gìn, lưu giữ...

3-1-.jpg
Vườn rau La Hường làng Cẩm Bắc (thuộc phường Hòa Thọ Đông cũ), nhìn từ cầu Cẩm Lệ. Ảnh: N.H

Tháng Mười vừa chạm chân đến thành phố mang theo những cơn mưa lớn. Chỉ mới một đêm thôi mà nước sông Cầu Đỏ đã sóng sánh tràn bờ. Đám lau sậy ven sông ngộp nước chấp chới trong màu phù sa đỏ quạch.

Ngày còn nhỏ, mỗi lần đi học ngang qua đây, tôi cứ thắc mắc sao tên cầu mang sắc đỏ mà chẳng thấy nhịp nào sơn phết một màu son?

Khi con lạch thành con sông

Đem chuyện này về hỏi người lớn trong làng mới biết, trước đây người Pháp khi làm cầu bắc qua sông đã cho sơn toàn bộ khung thép một lớp chống gỉ sắt màu đỏ nên cầu có tên là Pont de Fer, nghĩa là Cầu Sắt. Cái màu đỏ chói lọi ấy bỗng trở thành đặc điểm nhận diện của cây cầu bắc qua khúc sông quê.

Cái tên Cầu Sắt chết yểu ngay từ buổi mới tượng hình nhường chỗ cho danh xưng mỹ miều: Cầu Đỏ. Gọi riết thành quen, thế là cả khúc sông Cẩm Lệ nối từ sông Yên xuống đến sông Hàn có cây cầu bắc ngang từ đó đã “chết tên” Cầu Đỏ.

Cầu Đỏ chỉ mới xuất hiện từ thời Pháp thuộc, nhưng Cẩm Lệ thì đã được “khai sinh” từ rất sớm, được chép trong sách Đại Nam nhất thống chí, và là ngọn nguồn phát sinh tên làng Phong Lệ.

Mấy bữa trước, chúng tôi có cuộc trò chuyện với anh Võ Văn Hòe, người có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian Hòa Vang, mới tỏ tường rằng: vùng đất Phong Lệ xuất hiện từ đời nhà Hồ vào năm 1404 thuộc xứ Đà Ly (gần như bao trọn địa bàn Hòa Vang sau này). Đến năm Thiệu Trị nguyên niên (1841), tên Đà Ly được đổi thành Phong Lệ, có thể xem là “ngôi làng tiên phong trong khai hoang vỡ hóa, mở rộng đất đai về phương Nam”.

Nhưng có điều, nhiều thế hệ sống ở làng mạc hai bên dòng sông, gần như cả cuộc đời đã đi lại trên cây cầu, ăn con cá, con tôm từ nước sông nhưng mấy ai biết, hơn 100 năm trước, con sông Cầu Đỏ chỉ là con lạch nhỏ của sông Cẩm Lệ. Nhỏ đến nổi vào mùa nước cạn có thể lội qua mà không cần xắn quần. Làng trên xóm dưới liền một dải, đồng trước ruộng sau câu hò xanh mướt.

Hiện tượng con nước chảy qua làng lớn, một ngày nào đó bỗng lớn lên, rộng ra và chia làng thành hai phía (hai bờ Đông - Tây hoặc Bắc - Nam) là đặc trưng địa lý và văn hóa rất phổ biến ở dải đất miền Trung.

Người già vẫn kể rằng, mỗi năm vài bận, Thủy Tinh dẫn binh tôm tướng cá theo nước lũ dâng tràn đánh phá khiến con lạch nhỏ chảy ngang qua làng Phong Lệ sạt lở, nới dòng, đẩy ruộng đồng về hai phía Bắc Nam cách trở đò giang. Từ đó làng Phong Lệ được chia ra thành hai làng Phong Lệ Nam, Phong Lệ Bắc.

Ngay như sông Yên trước khi hợp lưu với sông Túy Loan để hình thành đầu nguồn sông Cẩm Lệ thì đã từng là con nước hẹp chảy qua làng cổ La Châu. Nói như người dân nơi đây là “hẹp đến độ, khi quăng cục đất từ bờ ni qua bờ tê mà tai vẫn nghe tiếng rơi nghiêng nghiêng bờ cỏ”.

Vậy mà chỉ mấy chục năm sau, con nước ấy hóa thành sông mênh mang sóng nước. Làng xưa bỗng chốc chia thành hai đơn vị hành chính tách biệt: một La Châu thuộc Hòa Tiến (cũ) và một La Châu thuộc Hòa Khương (cũ)…

1-2-(1).jpg
Lễ rước Mục đồng làng Phong Lệ là lễ hội duy nhất trong cả nước. Ảnh: N.H

Một sông nhưng... hai làng

Từ hồi con sông lặng lẽ đẩy làng về hai phía Bắc - Nam, cái mỹ ý của tên làng Phong Lệ (phong tục, tục lệ và nếp sống tao nhã, tốt đẹp) bị thời gian giản lược mất chữ Lệ mỹ miều, chỉ còn gọi là Phong Nam, Phong Bắc.

Khoảng ba năm về trước, khi chúng tôi tìm hiểu về hiện trạng nhà cổ tại Phong Nam, gặp ông Ngô Văn Nghĩa, nguyên Bí thư Chi bộ thôn Phong Nam, người luôn đau đáu về việc họ việc làng ở mảnh đất nổi tiếng với lễ rước Mục đồng độc đáo đã kể rằng: “Ngày xưa làng Phong Lệ tuy chia tách hai thôn, nhưng dân làng vẫn chung việc việc làng như cũ. Cho tới hồi năm 1930, khi con đường sắt hình thành đi ngang qua làng, tiếp theo là quốc lộ… Lúc đó Phong Lệ mới có cảm giác bị chia cắt thật sự thành Nam, Bắc như bây giờ”.

Cơn mưa tháng Mười đỏng đảnh thoắt đến rồi đi để lại trên mặt sông những con sóng vỗ bờ. Tôi đã nhiều lần đứng trên cây cầu từng khoác lên chiếc áo đỏ chói lọi, nhìn về hai phía bờ Bắc Nam, lắng nghe phù sa kể chuyện làng Phong Lệ.

Một nửa phía Nam là đất bồi phù sa trù phú, thuận lợi cho việc nông tang. Một nửa phía Bắc thoai thoải triền đồi cây trái. Sự chia cắt bởi dòng sông không đơn thuần về địa lý mà tạo nên những sắc thái văn hóa rất thú vị. Cái lạ ở đây là cùng uống dòng nước sông nhưng giọng nói hai làng lại khác. Dân bờ Nam nói kiểu “mày, tô (tao), sô (sao), dzậy (vậy)” thì người bờ Bắc lại xưng hô “mi, tau, răng, rứa”.

Dấu ấn của một thời tiên phong trong khai hoang vỡ hóa, mở rộng đất đai về phương Nam vẫn còn lưu dấu ở làng Phong Nam như đình, chùa, miếu nhà thờ Tiền hiền, đình Thần Nông,... Những câu đối cổ tương truyền là của Cao Bá Quát, Phan Bội Châu ghi tặng cho làng hiện hữu như chứng nhân lịch sử. Duy nhất trong cả nước, một lễ rước Mục đồng - lễ hội dành riêng cho các trẻ chăn trâu, tôn vinh nghề nông, cầu cho những cánh đồng căng tràn màu lúa – đã được khôi phục và trở thành niềm tự hào của xứ đồng.

Ở Phong Bắc thì vẫn còn lại miếu Ông Cọp, những ngôi mộ của các thế hệ tổ tiên, danh nhân Ông Ích Khiêm, Ông Ích Đường...

Cũng ngăn cách bởi sông Cẩm Lệ nhưng vùng đất Cẩm Lệ phía hạ du có từ thời nhà Trần (Trần Dụ Tông) lại đến từ một cơ duyên chủ động hơn nhiều.

Nhà báo Văn Thành Lê, người có nhiều bài báo về mảnh đất Cẩm Lệ cho biết: “Chính trận lụt tai ương Bính Thìn (1796) đã đưa dân làng Cẩm Lệ vượt sông qua Bình Khương động trú nhờ tại Gò Thị. Dần dần về sau, cư dân bờ Nam Cẩm Lệ di cư cả làng sang bờ Bắc (Gò Thị) lập vườn, làm nhà ổn định để tránh lũ lụt. Đất Gò Thị vốn chật hẹp, họ lại xin khai khẩn đất vùng Gò Tràm, Gò Theo… Cứ thế theo thời gian, làng Cẩm Lệ mở rộng dần về phía hữu ngạn”.

Hồi đó chưa có cầu, người dân từ bờ Bắc sang bờ Nam cày cấy trên ruộng xưa vườn cũ phải chèo ghe qua sông.

Đến năm Thành Thái thứ 13 (1901), cư dân Cẩm Lệ ở bờ Bắc cử đại diện mang lễ vật trở về làng cũ xin được lập làng mới. Từ đó cái tên Cẩm Lệ hoa gấm lặng lẽ đi vào dân gian, nhường chỗ “khai sinh” cho hai làng Cẩm (Lệ) Nam, Cẩm (Lệ) Bắc.

Giữ ký ức làng

Những khúc sông mang tên làng tên xã như La Châu, Cầu Đỏ, Cẩm Lệ... cứ chảy trôi về biển lớn nhưng phù sa thì ở lại đắp bồi làm nên đất đai làng mạc. Ở đó nếp ăn, nếp ở, nếp làm và những nghĩ suy từ đời ông cha truyền lại cho con cháu cũng miên man như con nước.

Cũng trong buổi sáng tháng Mười mưa gió hôm ấy, ngẫu nhiên chúng tôi có cuộc “hội thảo bỏ túi” chung quanh vấn đề: “Giữ ký ức làng giữa những biến động về sáp nhập hành chính hiện nay”.

Việc thay đổi tên một xứ đất không đáng lo bằng việc mất đi ký ức làng.

Thời gian đã chứng minh rằng, dẫu bao lần thay tên đổi họ nhưng đất Phong Lệ vẫn trường tồn trong những huyền thoại miếu Thần Nông, lễ rước Mục đồng, giai thoại về cụ Tiễu Phủ sứ - danh tướng Ông Ích Khiêm, và cả trong giọng nói lạ mà quanh vùng không nơi nào có được. Hay như địa danh Cẩm Nam, Cẩm Bắc ra đời về hành chính nhưng cái tên Cẩm Lệ muôn đời vẫn lưu danh trong câu ca: Thanh Hà vẫn gạch bát nồi/ Thuốc thơm Cẩm Lệ mấy đời lừng danh.

Có thể nói, hình thái văn hóa truyền thống diễn ra sau lũy tre làng như những dấu lặng nghệ thuật trong khúc đại hòa tấu của một Đà Nẵng năng động, sầm uất.

Nhà nghiên cứu Võ Văn Hòe cho rằng: “Để bảo tồn đặc trưng văn hóa làng, thì không ai bằng người dân địa phương. Họ sống ở làng, nói giọng nói của làng, thực hiện nếp sống phong hóa của ông bà cha mẹ truyền lại rồi bày biểu lại con cháu của mình như một “bản năng” sống.

Thời đại bây giờ là thời đại mở, làng không còn được bao bọc bởi lũy tre xanh, không còn có cảnh dân chính cư và ngụ cư… nên bản sắc riêng mỗi làng càng dễ bị hòa lẫn. Viết và học lịch sử làng cũng là điều cần chú trọng và nên làm lúc này…”.

Trời vẫn mưa, một màu mưa xối xả. Chúng tôi ngồi nhìn ra ngoài con đường nhựa lướt thướt, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng. Tự dưng tôi nhớ đến ngôi nhà gạch 3 gian nhuốm màu ký ức của ông Trần Nhi ở làng Đông Hòa, phía Nam Cầu Đỏ.

Ông kể rằng, cả mấy làng Phong Nam, Đông Hòa, Tây An, Phong Bắc mấy trăm năm trước có chung gốc làng Phong Lệ. Sau này dẫu có chia tách, hay thêm làng xóm mới đi nữa thì “họ Trần (Nhị Trần) ở làng Đông Hòa và họ Trần (Nhứt Trần) ở làng Phong Nam vẫn chung một tiền hiền mà con chung giọng nói “mày, tô (tao), sô (sao) dzậy (vậy)”. Ký ức làng mãi mãi là những lớp phù sa in đậm dấu ấn văn hóa được trao truyền cho con dân các thế hệ mai sau kế tục giữ gìn, lưu giữ...

(0) Bình luận
x
Nổi bật
Ký ức Phù sa
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO