Tác phẩm, tác giả

Ký ức về những "chảo trộn văn hóa"

HOÀNG DŨNG • 04/10/2026 09:30

ĐNCT - Suốt ba năm, TS Nguyễn Thụy Phương tìm gặp gần 100 cựu học sinh trường Pháp tại miền Nam giai đoạn 1954-1975, khắc họa lại triết lý "dạy làm người" và ẩn dụ giả kim về bản sắc Việt giữa môi trường đa văn hóa.

Cuốn sách Trường Pháp ở Việt Nam 1945-1975: Từ sứ mạng khai hóa đến ngoại giao văn hóa bắt nguồn từ luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thụy Phương, Tiến sĩ Giáo dục học, hiện đang sống và làm việc tại Pháp.

Câu chuyện này đã được thảo luận sôi nổi trong buổi tọa đàm trực tuyến tối 25/9 do Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam (VSC) tổ chức. Đằng sau những báo cáo ngoại giao khô khan về hệ thống trường Pháp tại miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975, những cậu bé, cô bé từng ngồi trên ghế nhà trường khi đó đã thực sự sống, suy nghĩ và trưởng thành ra sao?

Câu hỏi ấy thôi thúc TS Nguyễn Thụy Phương dành ba năm (2010-2013) phỏng vấn gần 100 nhân chứng từ 70 đến 95 tuổi, sinh sống khắp nơi trên thế giới - những cựu học sinh, cựu giáo viên từng bước ra từ ngôi trường từng thu hút 20.000 đến 35.000 học sinh mỗi năm.

Triết lý "dạy làm người"

Nhìn lại không gian học đường thời kỳ 1954-1975, TS Bùi Trân Phượng, nguyên Hiệu trưởng Đại học Hoa Sen, nhấn mạnh tinh thần giáo dục Cộng hòa (École de la République): Nhà trường được tổ chức như một không gian độc lập, tách bạch khỏi thế quyền chính trị và thần quyền tôn giáo. Giữa bối cảnh xã hội nhiều biến động và chiến tranh, ngôi trường đóng vai trò như một "tổ kén" hay "chốn bình yên", nơi học sinh không bị cuốn vào những tranh chấp bên ngoài mà được dành trọn tâm trí cho việc học tập và rèn luyện nhân cách.

Điểm cốt lõi tạo nên sức sống của nền giáo dục này chính là triết lý "dạy làm người", chứ không đơn thuần "dạy làm nghề" hay luyện thi theo những đáp án mẫu có sẵn. Học sinh được rèn luyện "tư duy Descartes" (esprit Descartes) - phương pháp suy luận logic, khoa học và tinh thần phản biện độc lập. Giáo viên khuyến khích học trò tự học qua tủ sách lớp học và thư viện, biết tôn trọng sự khác biệt và tự do bày tỏ chính kiến. Khi làm bài tập hay luận văn, học sinh càng trình bày được góc nhìn độc lập, đúng đắn, biết suy nghĩ bằng chính cái đầu của mình thì càng được điểm cao. Chính sự tôn trọng cá tính và tự do tư tưởng ấy đã đào tạo nên những con người bản lĩnh, biết tự chịu trách nhiệm và sẵn sàng đối mặt với mọi thử thách cuộc đời.

Để phục dựng không gian giáo dục ấy, công trình nghiên cứu của TS Nguyễn Thụy Phương đánh dấu một bước tiến quan trọng khi vận dụng phương pháp "Lịch sử truyền miệng" (Oral History). Trong khi các tư liệu lưu trữ ngoại giao của Pháp thường nhìn nhận hệ thống trường học hậu thuộc địa như một dự án ngoại giao văn hóa đang suy giảm ảnh hưởng, thì hồi ức của gần 100 nhân chứng lại khắc họa một thực tế hoàn toàn khác - đó là lòng biết ơn về tình thầy trò, tình bạn đa văn hóa và sự trưởng thành nhân cách.

TS Bùi Trân Phượng đánh giá đây là cách tiếp cận xã hội học đa chiều, đặt tiếng nói của người học vào vị trí trung tâm để đối chiếu với các hồ sơ hành chính. Qua những cuộc phỏng vấn sâu kéo dài nhiều giờ, nghiên cứu không chỉ ghi nhận những trải nghiệm thành công mà còn soi chiếu cả những giằng xé nội tâm: xung đột giữa tinh thần tự do cá nhân tiếp thu tại trường với lễ giáo Khổng giáo nghiêm khắc trong gia đình, hay nỗi đau bị phán xét của nhóm học sinh lai. Từng dòng hồi ức cá nhân, khi ngưng tụ lại, đã kết tinh thành ký ức tập thể của cả một thế hệ, giúp hậu thế có cái nhìn trọn vẹn và nhân văn hơn về lịch sử.

Các diễn giả tham gia buổi tọa đàm “Muối, Lưu huỳnh và Thủy ngân - Tính đa văn hóa từ hồi ký của các cựu học sinh trường trung học Pháp (miền Nam Việt Nam, 1954-1975)”. Ảnh: H.D

Ba nguyên tố căn tính

Song song với những ký ức về phương pháp giáo dục ấy, câu chuyện về bản sắc cá nhân khi bước ra không gian đa văn hóa cũng được người trong cuộc kể lại trọn vẹn qua chính trải nghiệm của mình. Để mô tả trải nghiệm này, cựu học sinh Nguyễn Ngọc Châu (Trường Jean-Jacques Rousseau, cháu ruột ông Nguyễn Ngọc Tương - một trong những người sáng lập đạo Cao Đài) đã đưa ra ẩn dụ giả kim độc đáo về ba nguyên tố: lưu huỳnh, muối và thủy ngân. Trong cấu trúc của một quả trứng, lưu huỳnh tượng trưng cho lòng đỏ - tức bản sắc, cốt cách và tâm hồn Việt bên trong; muối là vỏ trứng - môi trường thể chế và cấu trúc xã hội; còn thủy ngân là lòng trắng - sự linh hoạt, khả năng thích ứng mềm dẻo trong không gian giao thoa.

Trên thực tế, các ngôi trường Pháp như Rousseau, Marie Curie ở Sài Gòn, Yersin ở Đà Lạt hay Blaise Pascal ở Đà Nẵng chính là những "chảo trộn văn hóa" (melting pot) sinh động. Cựu học sinh Phan Văn Song (Trường Yersin) nhớ lại không gian chung sống hòa hợp giữa học sinh thuộc nhiều nguồn gốc khác nhau: Việt, Pháp, Hoa, Khmer, Ấn, Lào... cùng nhiều tầng lớp xã hội. Dù học chương trình tiếng Pháp, sau năm 1954, chính quyền bắt buộc các trường phải đưa bốn môn học gồm Việt văn, Lịch sử, Địa lý và Giáo dục công dân vào giảng dạy bằng tiếng Việt, giúp học sinh gắn chặt với cội nguồn dân tộc.

Thế hệ học sinh này sở hữu năng lực tam ngữ (Việt - Pháp - Anh) vượt trội. Đời sống tinh thần của họ là sự hòa quyện tự nhiên giữa văn hóa bác học và văn hóa đại chúng. Họ đọc trực tiếp nguyên bản tác phẩm của Nietzsche, Marx, đồng thời say mê Tự lực văn đoàn, Ngô Tất Tố hay truyện chưởng gối đầu giường; họ nghe nhạc Bach, nhạc Pháp đương đại song song với Cải lương và Rock Việt; các nữ sinh duyên dáng trong tà áo dài truyền thống vào dịp lễ hay biểu tình, nhưng cũng rất thời trang với váy xếp ly hay váy BB (Brigitte Bardot) trong những buổi dạ vũ. Như cựu học sinh Nguyễn Lê Hiếu đúc kết, văn hóa Việt giống một "dòng sông" dung nạp các nhánh thủy lưu Pháp, Mỹ, Trung Hoa để làm phong phú bản sắc cá nhân chứ không bao giờ bị hòa tan.

Khép lại chặng đường hồi tưởng, di sản từ mô hình giáo dục Pháp giai đoạn 1954-1975 không phải một hoài niệm khép kín của quá khứ, mà gợi mở nhiều giá trị thời sự cho giáo dục hiện đại. Bài học lớn nhất đọng lại là năng lực đào tạo những con người tư duy độc lập, tinh thần phản biện, đồng thời biết trân trọng và phát huy bản sắc cội nguồn trong môi trường toàn cầu. Việc lưu giữ và hiểu đúng những ký ức học đường chính là cách bồi đắp "sức mạnh mềm" văn hóa, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển con người và đô thị bền vững.

Hành trình 54 năm của bức vẽ trên báo tường

Vào ngày 1/1/1968, tại Trường Trung học Blaise Pascal Đà Nẵng - một trong bốn trường trung học công lập Pháp lớn thời bấy giờ - cậu học sinh Vĩnh Khoa, thuộc dòng dõi hoàng tộc nhà Nguyễn (cùng thế hệ chữ "Vĩnh" với vua Bảo Đại), đã tự tay vẽ bức ký họa làm bìa cho tập san nội bộ số 4 của trường. Sau khi tốt nghiệp trung học, ông sang châu Âu định cư tại Bỉ, và từ thập niên 1980 trở thành họa sĩ minh họa, biếm họa nổi tiếng với nghệ danh là Vinh. Năm 2022, khi xuất bản công trình Le Việt Nam: une histoire de transferts culturels, TS Nguyễn Thụy Phương đã xin phép sử dụng lại bức vẽ tuổi học trò ấy. Sau 54 năm, nét vẽ báo tường của cậu học sinh Pascal năm nào chính thức xuất hiện trên bìa sách xuất bản tại Paris, trở thành gạch nối xúc động giữa ký ức học đường bên sông Hàn và dòng chảy tri thức quốc tế.

Cuốn sách Trường Pháp ở Việt Nam 1945-1975: Từ sứ mạng khai hóa đến ngoại giao văn hóa của TS Nguyễn Thụy Phương đã được trao Giải Sách hay 2022, hạng mục Phát hiện mới.

(0) Bình luận
x
Nổi bật
Ký ức về những "chảo trộn văn hóa"
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO