Đến ngày 31/12/2025, mặt bằng lãi suất huy động tăng mạnh so với năm 2024. PGBank dẫn đầu thị trường với 7,2%/năm, trong khi nhóm kỳ hạn ngắn đồng loạt niêm yết mức trần 4,75%.
Thị trường tài chính ghi nhận xu hướng tăng lãi suất huy động rõ nét trong năm 2025. Theo thống kê tính đến ngày 31/12/2025, hầu hết các ngân hàng thương mại đều điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi ở tất cả các kỳ hạn từ 1 đến 60 tháng so với cùng kỳ năm ngoái.
Biến động mạnh nhất diễn ra ở các kỳ hạn dưới 6 tháng. Nếu tại thời điểm cuối năm 2024, chỉ có 8 ngân hàng niêm yết lãi suất trực tuyến trên 4%/năm, thì đến cuối năm 2025, con số này đã trở nên phổ biến. Đặc biệt, mức lãi suất trần 4,75%/năm theo quy định đã được nhiều đơn vị áp dụng ngay từ kỳ hạn 1-2 tháng.
ACB là ngân hàng có mức tăng mạnh nhất ở kỳ hạn 3 tháng với mức điều chỉnh 1,8%/năm. Danh sách các ngân hàng niêm yết lãi suất trần 4,75%/năm cho kỳ hạn 3 tháng bao gồm 12 cái tên: OCB, PGBank, VIB, BVBank, PVCombank, Sacombank, LPBank, VPBank, VCBNeo, MBV, Nam A Bank và TPBank.
Tại kỳ hạn 6 tháng, PGBank dẫn đầu thị trường khi niêm yết mức lãi suất lên tới 7,1%/năm, tăng 2,1% so với năm ngoái. Một số ngân hàng khác cũng duy trì mức cao như Vikki Bank và Bac A Bank (6,5%/năm). Đáng chú ý, Bac A Bank áp dụng lãi suất 6,7%/năm cho các tài khoản tiền gửi trên 1 tỷ đồng.
Đối với kỳ hạn 12 tháng, PGBank tiếp tục giữ vị trí cao nhất với 7,2%/năm. Nhóm các ngân hàng niêm yết trên 6%/năm bao gồm: Vikki Bank, OCB (6,6%), VIB (6,5%), NCB (6,3%), và nhiều đơn vị khác như LPBank, PVCombank, VPBank. Ngoài lãi suất niêm yết, một số ngân hàng còn triển khai chính sách cộng thêm. Điển hình là NCB với chương trình cộng thêm lãi suất tới 2%/năm, đẩy mức lãi suất thực tế lên tới 8,3%/năm cho các khoản gửi đáp ứng đủ điều kiện về kỳ hạn và quy mô vốn.
Dưới đây là chi tiết lãi suất niêm yết và mức thay đổi (điểm phần trăm) so với cuối năm 2024 tại một số ngân hàng tiêu biểu:
| NGÂN HÀNG | 3 THÁNG (%) | 6 THÁNG (%) | 12 THÁNG (%) |
|---|---|---|---|
| PGBANK | 4,75 (+1,25) | 7,1 (+2,1) | 7,2 (+1,7) |
| OCB | 4,75 (+0,75) | 6,3 (+1,1) | 6,6 (+1,3) |
| VIKKI BANK | 4,7 (+0,8) | 6,5 (+0,95) | 6,6 (+0,8) |
| BAC A BANK | 4,55 (+0,55) | 6,5 (+1,35) | 6,55 (+0,95) |
| VIB | 4,75 (+1,25) | 5,3 (+0,4) | 6,5 |
| VPBANK | 4,75 (+1,35) | 6,2 (+1,2) | 6,0 (+0,5) |
| TECHCOMBANK | 4,65 (+1,5) | 5,85 (+1,3) | 5,95 (+1,1) |
| AGRIBANK | 3,5 (+1,0) | 5,0 (+1,4) | 5,3 (+0,5) |
| VIETCOMBANK | 2,4 (+0,2) | 3,5 (+0,6) | 5,2 (+0,6) |
Mặc dù xu hướng chung là tăng, thị trường vẫn ghi nhận một vài trường hợp đi ngược dòng như KienlongBank, SCB, Eximbank và ABBank với mức giảm nhẹ từ 0,05% đến 0,5% ở một số kỳ hạn nhất định.