Theo bước chân người Quảng

Lịch sử xứ Quảng qua thư tịch cũ

PHÙNG TẤN ĐÔNG • 02/10/2026 12:59

(VHXQ) - Xứ Quảng còn lưu giữ một khối lượng đáng kể tư liệu thư tịch Hán - Nôm tại các di tích, nhà thờ tộc và gia đình. Những tư liệu này góp phần làm rõ lịch sử đất đai, làng xã và con người xứ Quảng qua các thời kỳ.

nhung-gia-pha-trong-gia-dinh.jpg
Những trang thư tịch cũ còn lưu lại trong các ngôi nhà cổ, nối ký ức tiền nhân với hôm nay. Ảnh: Kim Liên

Những trang tư liệu xứ Quảng

Thư tịch Hán - Nôm Việt Nam gồm các sách vở, văn bản cổ do người Việt sáng tác, biên soạn bằng chữ Hán và chữ Nôm, phản ánh nhiều mặt của đời sống từ lịch sử, địa lý, văn học, tôn giáo, tín ngưỡng đến hành chính, giáo dục và xã hội. Nguồn tư liệu này không chỉ được lưu giữ tại các cơ quan chuyên môn mà còn nằm rải rác trong di tích, nhà thờ tộc và các gia đình.

Đối với xứ Quảng, thư tịch Hán - Nôm gắn với quá trình mở đất, lập làng và hình thành cộng đồng cư dân về phương Nam. Từ Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Ô châu cận lục của Dương Văn An đến các bộ địa chí, địa bạ, châu bản triều Nguyễn và những công trình nghiên cứu về Quảng Nam, Đà Nẵng, có thể tìm thấy nhiều tư liệu liên quan đến vùng đất này.

Nhưng nguồn tư liệu xứ Quảng không chỉ nằm trong những bộ sách lớn. Gia phả tộc họ, văn bia, sắc phong, khế ước, hoành phi, liễn đối, thư từ, bản đồ cổ cùng nhiều văn bản còn lưu giữ tại làng xã, di tích và gia đình cũng góp phần làm rõ lịch sử đất đai, làng xóm, dòng họ, nhân vật và đời sống người Quảng qua các thời kỳ. Nhiều nhà nghiên cứu như Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Bội Liên, Nguyễn Sinh Duy, Nguyễn Phước Tương, Lưu Anh Rô, Nguyễn Hoàng Thân… đã sử dụng các nguồn tư liệu này trong quá trình nghiên cứu lịch sử, văn hóa xứ Quảng.

Ở các địa phương, nguồn tư liệu Hán - Nôm cũng góp phần hình thành nhiều công trình địa chí. Điện Bàn có Gò Nổi đất học, Địa chí xã Điện Quang, Bàn Lãnh xã chí, Bảo An đất và người; Đại Lộc có Địa chí Đại Lộc, Địa chí Đại Nghĩa, Đại Lộc - một vùng văn hóa; Duy Xuyên có Duy Xuyên - vùng đất và con người; Quế Sơn có Quế Sơn - Đất và Người; Thăng Bình có Danh nhân Thăng Bình, Bia Văn Thánh và một số văn bản Hán Nôm tại Thăng Bình. Hội An cũng có nhiều công trình về làng xã như Làng Thanh Hà, Xã Cẩm Thanh, Xã Cẩm Kim, Xã Tân Hiệp và đặc biệt là bộ Di sản Hán Nôm Hội An gồm 6 tập.

Sách Địa chí Hội An (tập I - Sinh thái, NXB Đà Nẵng, 2025), ngoài nguồn tư liệu của các cơ quan nghiên cứu, trường đại học, các tổ chức văn hóa, bảo tồn, bảo tàng và các nhà nghiên cứu, còn có tư liệu của các nhà du hành, thương nhân, nhà truyền giáo; nguồn văn hóa dân gian và văn tự cổ đang lưu giữ trong nhân dân. Dân ca, hò vè, sự tích, giai thoại; sắc phong, khế ước, địa bạ, thư từ, bản đồ cổ, hoành phi, liễn đối, bia ký… là những tư liệu góp phần làm rõ lịch sử và đời sống của Hội An.

Nhưng những nguồn tư liệu ấy đang đứng trước nguy cơ mất mát do chiến tranh, thời gian, thiên tai, khí hậu, mối mọt và việc thất lạc, mua bán ra ngoài địa phương. Trong khi đó, người biết đọc, giải thích chữ Hán Nôm ngày càng ít, khiến nhiều tư liệu còn lưu giữ nhưng chưa được hiểu và khai thác đầy đủ, khiến một phần ký ức về đất và người xứ Quảng có nguy cơ mất mát theo thời gian.

_dsc0138.jpg
Những thư tịch cũ còn lưu giữ trong dân gian là nguồn tư liệu quý về lịch sử và văn hóa xứ Quảng. Ảnh: Minh Triết

Cần giữ gìn và phát huy nguồn tư liệu thư tịch cổ

Trước tình hình đó, việc bảo tồn thư tịch Hán Nôm cần được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết. Những văn bản quý đang được lưu giữ trong gia đình, nhà thờ tộc, đình, chùa và di tích nếu không được nhận diện, thống kê, phân loại và bảo quản đúng cách sẽ khó tránh khỏi nguy cơ hư hỏng, thất lạc. Vì vậy, cần tiếp tục điều tra, sưu tầm, xác định giá trị tư liệu, đồng thời hướng dẫn, hỗ trợ cộng đồng trong việc gìn giữ những văn bản đang lưu giữ tại địa phương.

Bảo tồn không chỉ là giữ lại bản gốc, mà còn phải làm cho tư liệu tiếp tục “sống” trong đời sống văn hóa và nghiên cứu. Những văn bản có giá trị cần được sao chụp, số hóa, phiên âm, dịch nghĩa, chú giải để phục vụ nghiên cứu và giúp người dân hiểu hơn về tư liệu mình đang lưu giữ. Sau khi sưu tầm, xử lý, các tư liệu cần được khai thác trong công trình nghiên cứu, sách địa chí, trưng bày tại di tích và giới thiệu đến cộng đồng. Qua đó, những văn bản vốn nằm trong tủ gia đình, nhà thờ tộc hay di tích có thêm cơ hội được biết đến và tiếp tục được gìn giữ.

Mặt khác, khi khai thác thư tịch cần thận trọng trong việc đối chiếu, kiểm chứng. Lịch sử có chính sử và dã sử, có tư liệu “Sử quán” ở tàng thư và tư liệu dân gian tại các di tích; mỗi nguồn đều có giá trị nhưng cũng có giới hạn nhất định. Trường hợp bà Hoàng Thị Tòng ở Tiên Phước là một ví dụ. Có bản tự thuật và sách “Dật sử” cho rằng bà từng tham gia Phong trào Duy tân, Đông Du, nhưng sau khi xem xét các chứng cứ, Phủ Quốc khanh đặc trách văn hóa của Việt Nam Cộng hòa không xếp bà vào hàng “nhân vật chí” (theo Lưu Anh Rô). Trường hợp chuyện “bắt sống tỉnh trưởng Hồ Ngận tháng 8/1945” ở Hội An cũng vậy. Đối chiếu tư liệu cho thấy lúc đó ông Hồ Ngận đã nghỉ hưu nhiều năm và đang ở nhà thuê trong phố, chứ không còn ở trong dinh như hồi ức thuật lại của chính ông.

Những trường hợp trên cho thấy, coi trọng thư tịch không có nghĩa là mặc nhiên xem mọi thông tin trong đó như sự thật lịch sử đã được xác lập. Cần đặt mỗi tư liệu trong mối quan hệ với các nguồn khác, đối chiếu, kiểm chứng và xác định hoàn cảnh hình thành văn bản. Như Chu Quang Trứ từng nói, khai thác kết hợp các nguồn tư liệu có thể “phá nhiễu để tiếp cận chân lý”.

Vì vậy, bảo tồn thư tịch Hán - Nôm không chỉ là giữ lại những văn bản cũ, mà còn là tìm cách để những tư liệu ấy được đọc, được hiểu và được sử dụng đúng giá trị.

(0) Bình luận
x
Nổi bật
Lịch sử xứ Quảng qua thư tịch cũ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO