Theo bước chân người Quảng

Lũ lụt xứ Quảng trong ghi chép của người phương Tây

ANH QUÂN 09/11/2025 07:13

Trong “Ô châu cận lục” của Dương Văn An viết từ giữa thế kỷ 16, vùng Thuận - Quảng được ghi nhận “Thời tiết mùa xuân, mùa hạ thì nắng, mùa thu mùa đông thì mưa… thịnh hạ thì nhiều cơn lũ lớn… Nước lụt thì cứ để tràn lan, không có đê để chắn” (1).

z7185125179002_dad11d158449f798aad1ea54b1caac30.jpg
Lũ lụt tại Bà Rén trong đợt ngày 3/11/2025, nơi cách đây gần 140 năm, Camille Paris gặp đợt lũ kéo dài 5 ngày, được ghi lại trong cuốn "Du ký Trung kỳ qua đường cái quan". Ảnh: ANH QUÂN

Trong các tài liệu về xứ Đàng Trong nói chung và xứ Quảng nói riêng, từ thế kỷ 17, người phương Tây cũng rất quan tâm đến hình thái thời tiết này.

Nước cuồn cuộn chảy ngập khắp vương quốc

Trong tác phẩm “Việt Nam thế kỷ 17: Những góc nhìn từ bên ngoài”(2), nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha Christophoro Borri ghi nhận: “Đàng Trong với bốn mùa phân định có khí hậu dễ chịu hơn nhiều, dù vẫn không thể bì được với khí hậu ôn hòa ở châu Âu (…) ba tháng Chín, Mười, Mười Một là mùa thu, nhiệt độ giảm xuống, không khí se mát do mưa liên tiếp trút xuống.

Lúc này vùng Kẻ Mọi thường hay gặp lũ quét, nước cuồn cuộn chảy ngập khắp vương quốc trên đường ra biển cả, tạo thành một vùng mênh mông nước trắng. Trong suốt ba tháng đó, nước lũ dâng lên hai tuần một lần, mỗi lần kéo dài ba ngày liên tiếp”.

Xứ Đàng Trong - theo tác giả, gồm 5 tỉnh, từ Sinuua (Thuận Hóa) đến Renran (Phú Yên); trong đó có Caciam - nay là Đà Nẵng.

Viết về lũ lụt xứ này, Christophoro Borri có các ghi nhận đáng chú ý: “Con người nơi đây mong mỏi trận lũ đầu mùa không phải bởi nó khiến không khí trở nên dịu mát hơn mà là vì nó bồi đắp phù sa cho đất đai; chính vì lý do đó mà khi lũ kéo về, người người đều vui mừng hoan hỉ…”.

Tuy nhiên, nước lũ cũng để lại những hậu quả khá nặng nề: “Thường thì lũ hay kéo đến bất ngờ, mới tối qua còn chưa thấy gì mà sáng ra đã mênh mông nước; lụt khiến người dân không thể ra khỏi nhà (…) khiến cho đàn gia súc, gia cầm chạy tán loạn bởi chẳng ai kịp lùa chúng lên chốn cao ráo”.

Điều này cũng được một người phương Tây khác là “ông Tây dây thép” Camille Paris miêu tả kỹ hơn khi chứng kiến trận lụt diễn ra ở Bà Rén, Quảng Nam vào tháng 12/1886 trong tác phẩm “Du ký Trung kỳ theo đường cái quan”(3): “Lụt ở Bắc Kỳ không là gì so với Trung Kỳ và lụt ở Quảng Nam thì vượt xa tất cả các nơi khác.

Trong hai ngày, nước lũ đã dâng cao một mét ngay chỗ dịch trạm, quân lính lấy tre chống đỡ mái nhà. Viên sĩ quan và tôi trèo lên chòi canh, mang theo ít đồ hộp. Một dòng nước xiết chảy từ núi ra biển cuốn trôi mọi thứ ọp ẹp trên đường đi, ngựa và trâu, cây cối và nhà cửa trôi sạch.

Trạm cũng mất toàn bộ đàn gia súc, không còn chỗ nào để nuôi nổi chúng khi bị lũ lụt thế này. Chúng tôi vẫn phải cứu ngựa của mình. Những trận lụt này báo hiệu mùa đông đến và năm nào cũng cùng thời điểm (giữa tháng Mười)”.

Bị “giữ chân” tại đây, Camille Paris cùng các cộng sự buộc phải kéo ngựa lên giường, trữ một số lượng lớn bao bột và đồ ăn chế biến sẵn. Họ cũng dự lường rằng những ngôi nhà sẽ chỉ trụ được đến cuối ngày thứ tư, và nếu lũ không rút vào hôm sau thì sẽ sẵn sàng xuống thuyền.

“Nhưng trên thuyền cũng chẳng khá hơn, thuyền không thể kháng cự lại thác lũ đang cuồn cuộn chảy ra hướng biển cho tới khi bị quật vào bờ sông hay một con đê và vỡ nát”, Camille Paris nhận định.

Đến ngày thứ năm, họ rời Bà Rén đi Tam Kỳ thì “nước vẫn ngập đến thắt lưng, nhưng dòng nước đã bớt cuồng nộ hơn và chúng tôi có thể mò mẫm nhờ vào những cây cầu uốn cong và nhô cao, để men theo đường cái quan…”.

Lạc quan trong ứng phó

Tuy nhiên, trong con mắt người phương Tây, thì người Đàng Trong nói chung và người xứ Quảng nói riêng giai đoạn đó (từ thế kỷ 17-19) cũng có cái nhìn lạc quan và thích ứng với tự nhiên trong lũ lụt.

Theo ghi nhận của Christophoro Borri, “khi lũ lụt xảy ra, người dân thường chèo thuyền lùa bắt gia súc, giết thịt khoản đãi láng giềng…”.

Ngay cả trẻ con cũng có trò vui của chúng, đó là rượt đuổi đám chuột đồng leo bám trên các thân cây: “Đám trẻ sẽ chèo thuyền rung cây cho chuột rơi xuống và chết đuối, trò con trẻ vì thế mang lại lợi ích tuyệt vời cho cả vương quốc, khi triệt hạ loài vật phá hoại hoa màu khỏi các cánh đồng ruộng lớn”.

Không chỉ vậy, vào mùa lụt, việc vận chuyển bằng thuyền bè rất dễ dàng từ nơi này sang nơi khác nên người dân có thói quen họp các phiên chợ lớn trên sông nước, nhộn nhịp kẻ bán người mua hơn hẳn các dịp khác trong năm.

Ngoài ra, theo Christophoro, “người ta chuyển than củi, gỗ tấm từ trên núi xuống bằng thuyền và len lỏi được đến tận từng nhà nhờ mọi ngả đường đều ngập nước, nhà của dân xứ này thường có cột cao để phù hợp với con nước lên xuống.

Vào mùa lụt, người ta ở trên tầng cao, và thật tuyệt khi nước chẳng bao giờ chạm đến. Dân chúng nơi đây dựng nhà dựa trên hoàn cảnh sinh sống, nhờ có kinh nghiệm lâu đời mà họ cất nhà đủ cao để không bị nước tràn vào.”

Qua đó, cũng thấy, trước khi biến đổi khí hậu diễn biến nhanh, khó lường và con người tác động đến thiên nhiên qua các công trình như hồ chứa, đập chắn, phá rừng…, thì lũ lụt là hiện tượng tự nhiên thuần túy và con người miền Trung đã biết ứng phó, thậm chí tìm thấy niềm vui và lợi ích trước hiện tượng thời tiết này.

----------------

(1) Dẫn theo Lũ lụt ở các tỉnh miền Trung trong hai thế kỷ 19-20, TS Đỗ Bang chủ biên, NXB Đà Nẵng, 2002.

(2) Việt Nam thế kỷ 17: Những góc nhìn từ bên ngoài (Christophoro Borri về Đàng Trong & Samuel Baron về Đàng Ngoài), Olga Dror và K.W.Taylor giới thiệu và chú giải, Hoàng Tịnh Thủy dịch, NXB Đà Nẵng và Omega+, 2020.

(3) Du ký Trung kỳ theo đường cái quan, Camille Paris, NXB Hồng Đức, 2021.

(0) Bình luận
x
Nổi bật
Mới nhất
Lũ lụt xứ Quảng trong ghi chép của người phương Tây
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO