Từ ký ức chiến tranh đến căn tính từng bị đứt gãy, những điều và những người từng bị lãng quên trở thành chất liệu sống động trong thế giới nghệ thuật của Mai Huyền Chi - người làm phim luôn khao khát “trò chuyện với thế giới” bằng ngôn ngữ riêng.
.jpg)
Câu chuyện chưa thể kể hết
Mùa ký ức ngược dòng, Mai Huyền Chi ra mắt phim tài liệu “Vietnam: 50 years of forgetting”. Phim không kể về cuộc chiến bằng những chiến thắng hay con số mà bằng những ký ức rời rạc, những con người bình thường và một hành trình đi tìm, khám phá.
Hành trình ấy khởi nguồn từ việc tìm kiếm hình bóng ông nội - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Mai Đăng Chơn. Tên ông được ghi vào sử sách, tạc thành tượng đá, đặt tên cho con đường, trường học… Nhưng với Chi, ông là một khoảng trống. Không ai có ký ức để kể lại. Những gì gia đình biết chỉ là dòng viết của người khác.
Từ khoảng trống ấy, Chi bắt đầu lần theo sợi dây hoài niệm. Chi đi dọc đất nước, gặp gỡ các nhân chứng sống sót qua các sự kiện khốc liệt: Trận chiến Huế 1968, cuộc ném bom Giáng sinh 1972, Tổng tiến công mùa Xuân 1975. Chi bất ngờ khám phá câu chuyện gia đình chưa từng được kể: người dì kết hôn với một phi công chiến đấu bên kia chiến tuyến. Chi chạm vào nỗi đau của những nạn nhân chất độc da cam, những vết thương chiến tranh còn âm ỉ đến tận hôm nay…
Nếu có cơ hội làm một bộ phim tiếp theo về Đà Nẵng, tôi muốn khai thác tình yêu với đất, sông, núi và tổ tiên. Với tiếng nói, thổ ngữ, thành ngữ và hát ru. Với mắm nêm và bánh tráng”.
Ký ức hiện lên ám ảnh và dằng dặc nỗi đau qua lời kể nghẹn ngào, có khi đọng lại trong ánh mắt, câu hát... Ký ức nằm trong những người còn nhớ rất rõ, những người cố tình quên đi, và cả những người chọn gói ghém quá khứ trong im lặng. Không phải ai cũng sẵn sàng kể lại. Chi đối diện với vài cuộc điện thoại không người bắt máy.
“Tôi bắt đầu bộ phim này với suy nghĩ rằng mình đang tìm kiếm ông nội của mình - một cái tên, một ngôi mộ, một câu chuyện. Thay vào đó, tôi đã tìm thấy một vùng đất rộng lớn của sự quên lãng bao quanh chiến tranh, đặc biệt là trong sự im lặng của những người sống sót”, Chi tâm sự.
Chi thú nhận, mình cũng từng vô tâm, thờ ơ, không biết tới nỗi đau chiến tranh - cả những ký ức buồn ngay trong chính gia đình mình. Chiến tranh, hóa ra không ở đâu xa. Nó hiện hữu trong cuộc sống thường nhật của những người gần gũi nhất với Chi: dì, các cậu, anh em họ, bà ngoại của bạn... Mỗi người ôm giữ một mảnh ký ức chiến tranh. Mỗi mảnh một hình dạng nhưng đều xót xa.
Chi bảo, phim chỉ là chuyện nhà cô. Như một dịp “ôn lịch sử”, rồi về nhà. Nhưng xem phim rồi mới thấy, bằng cách kết nối những mảnh ghép ấy, bộ phim đã thầm lặng đặt ra những câu hỏi lớn về ký ức, chiến tranh và những gì còn dai dẳng sau một cuộc chiến đã lùi xa 50 năm. Làm sao để nhớ một cuộc chiến mình chưa từng sống qua, nhưng đã mang trong máu?!

Khi được hỏi về động lực làm phim, Chi chia sẻ: “Thỉnh thoảng tôi thấy mình như một cái cây. Tôi đứng trên mặt đất, và tâm trí tôi lần theo những sợi rễ đã cắm xuống đây. Chúng chạy một quãng ngắn rồi dừng lại. Nông lắm, tôi biết. Như thể đã bị chặt lìa. Nhưng đâu đó, vẫn có những sợi dây liên kết vô hình - với một lịch sử nào đó, một tổ tiên nào đó, một dĩ vãng nào đó mà tôi biết chắc là đáng yêu quý và tự hào. Tôi cảm nhận được nó, mơ hồ thôi, chưa đủ rõ để thành nhịp đập trong lồng ngực”.
Sự thôi thúc âm ỉ từ những ngày Chi làm việc với các đoàn phim nước ngoài, quan sát câu chuyện được kể theo góc nhìn của họ. “Người Việt được mời tới để phục vụ cho câu chuyện, xong thì bắt tay, gởi phong bì, và mời về. Những khoảnh khắc đó nằm lại trong tâm trí tôi. Chuyện mình không kể, thì người khác sẽ kể”, Chi đau đáu. Từ trăn trở ấy, Chi bắt đầu hành trình đi tìm câu chuyện của “riêng mình”.
Thách thức lớn nhất trong quá trình thực hiện bộ phim là tìm kiếm cách kể: làm sao để đặt người Việt Nam vào vị trí trung tâm, chủ động. “Việc tránh để không rơi vào các mô-típ cũ là chuyện không dễ, nhất là câu chuyện chiến tranh đã được kể đi kể lại nhiều lần. Tôi cảm thấy để hiểu, nhìn rõ bản thân nghĩ gì và thể hiện được đúng như chính mình là điều rất khó. Đi theo lối cũ sẽ dễ và an toàn hơn”, Chi thừa nhận.
Phim khép lại, Chi không cảm thấy tiếc nuối bởi hiểu rằng không thể khai thác hết tất cả. Đất nước quá rộng lớn với hàng trăm triệu con người và hàng triệu nỗi đau. Ký ức của mỗi người, vùng đất có thể mãi mãi là câu chuyện chưa thể kể hết.

Gọi tên những phận người
Tôi gặp Mai Huyền Chi lần đầu tại buổi chiếu phim “Cô gái đến từ Đắk Lắk”. Nhưng phải đến lần thứ hai, cái tên ấy mới thực sự níu tôi lại. Hôm ấy, Chi thuyết trình dự án “Chừ má nằm mô” tại Dự án phim ngắn CJ. Giọng nói đặc sệt Đà Nẵng cùng phương ngữ quê nhà thân thương khiến tôi không thể rời mắt khỏi cô gái nhỏ nhắn đang say mê nói về những điều tưởng như rất riêng mà lại chạm đến điều gì đó rất sâu bên trong tôi.
Từ niềm thương với đồng hương, tôi lặng lẽ dõi theo chặng đường của Chi. Rồi nhận ra, Chi đã có hành trình sáng tạo đầy mạnh mẽ. Chi làm nhiều thứ: viết, sản xuất, giảng dạy, nhưng điện ảnh là nơi cô để lại dấu ấn đậm nhất.
Các tác phẩm của người nghệ sĩ Đà Nẵng đều đau đáu với dòng chảy lịch sử, văn hóa và con người. Đó là “Thì sông cứ chảy” (Video được vinh danh “Video xuất sắc” năm 2015), ôm trọn những giấc mơ mong manh của trẻ em xóm chài Long Xuyên (An Giang). Không giấy khai sinh, chưa từng đến trường, những đứa trẻ tên Biển, Lụa, Gấm, Bé... mỗi ngày cặm cụi bán vé số, mót cá hay đi bán rau để phụ giúp gia đình. Giữa tiếng xuồng máy vang vọng và khúc sông xao xác sóng vỗ, lũ trẻ vẫn hồn nhiên kể về giấc mơ được đi học, đi siêu thị, trở thành ca sĩ để kiếm tiền trả nợ cho mẹ...
Đó là “Cô gái đến từ Đắk Lắk” (dự án lọt vào FLY FILM LAB 2019, đồng biên kịch - đạo diễn cùng Pedro Roman), kể về Sương - một cô gái trẻ rời phố núi để tìm kế sinh nhai giữa phố thị Sài Gòn. Cô làm việc trong một quán ăn nhỏ cùng hai người bạn nhập cư khác. Trong náo nhiệt phố thị, bộ phim ghi lại những khoảnh khắc chông chênh của tuổi trẻ xa xứ.
Đó là “Dòng sông biết tên chúng ta” (đoạt Giải Tokyo Talents Award 2024) với nỗi trăn trở về những người không có quốc tịch ở thượng nguồn sông Tonle Sap (Campuchia), về những người không nhớ tên của mình. Bộ phim đặt ra những câu hỏi phức tạp về danh tính, lịch sử, chính trị và khiến chúng ta suy ngẫm về nhân tính chung cũng như những cấu trúc xã hội khiến một số người trở nên vô hình.
Các tác phẩm của Chi thường suy tư sâu sắc về những phận người ở vùng rìa xã hội - nơi con người và căn tính luôn ở trạng thái chênh vênh. Chi bảo: “Đối với tôi, làm phim là học cách quan sát, lắng nghe và yêu thế giới, để biết cách ở trong thế giới này và trò chuyện với nó. Những tác phẩm tôi làm là những cuộc chuyện trò đó”.
Chi không phải người thích nói về mình. Nhưng trong một lần phỏng vấn, cô tự nhận mình là người “quê quê, hơi ngang ngang, thơ thơ mà cục mịch”. Tôi nghĩ, chính cái “quê quê” ấy đã làm nên “chất” riêng trong từng bộ phim của cô - một nhịp điệu rất đời, rất người, rất Đà Nẵng. Nhưng với tôi, những thước phim của Mai Huyền Chi bao giờ cũng dịu dàng và đầy gợi mở, để lại thổn thức rất sâu và rất lâu. Tôi thương nhân vật của Chi, cũng thương người đạo diễn luôn lặng lẽ gom nhặt những điều bình dị rồi kể lại bằng tất cả ấm áp và yêu thương!
Mai Huyền Chi là đạo diễn, biên kịch, nhà sản xuất, nhà văn. Cô tốt nghiệp thạc sĩ biên kịch tại Trường Điện ảnh London, từng là Tổng biên tập MSN Vietnam, giảng viên đại học, được vinh danh là một trong những nhà sản xuất và giám tuyển nghệ thuật tiêu biểu tại Việt Nam năm 2024 bởi Hanoi Grapevine’s Finest.
Chi là biên kịch của “Câu chuyện Brixton” (Anh, 2022), “Chàng vợ của em” (Việt Nam, 2019)... Cô cũng là người sáng lập và là giám đốc chương trình Cinema Con Nhà Nghèo - một dự án thuộc A Sông Art Collective, nơi Mai Huyền Chi nuôi dưỡng điện ảnh độc lập và lan tỏa nghệ thuật đến cộng đồng.