Cuộc đời cụ Huỳnh Thúc Kháng để lại dấu ấn sâu đậm về khí tiết của người trí thức yêu nước, sự ngay thẳng và tận tâm với việc chung. Những tham luận tại hội thảo khoa học để làm rõ phẩm chất ấy của cụ Huỳnh Thúc Kháng.

GS.TS Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhấn mạnh: ở cụ Huỳnh Thúc Kháng, học vấn, khí tiết và đạo đức kết tinh thành một nhân cách lớn. Cụ đem tri thức phụng sự đất nước, nhân dân, không mưu cầu địa vị, lợi ích riêng; luôn cởi mở, cầu thị, sẵn sàng vượt qua những giới hạn của chính mình vì lợi ích tối cao của dân tộc.
Sự nhất quán ấy thể hiện ở lời nói đi đôi với việc làm. Cổ vũ tân học, cụ tự mình học điều mới; kêu gọi đổi mới nếp sống, cụ đi đầu thực hành nói đại đoàn kết, cụ đem uy tín quy tụ đồng bào; đề cao pháp luật, cụ đặt pháp luật lên trên hết trong hành động. Một cuộc đời thanh bạch, giản dị, tận tụy đến hơi thở cuối cùng, đó chính là sức cảm hóa bền lâu của một nhân cách liêm chính.

Mười ba năm tù đày ở Côn Đảo là một thử thách khắc nghiệt trong cuộc đời cụ Huỳnh Thúc Kháng. Tham luận của Phó trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Trần Văn Khuyên đã làm rõ lòng sắt son của người chí sĩ giữa cảnh giam cầm, lao động khổ sai. Trong hoàn cảnh ấy, cụ Huỳnh vẫn học tiếng Pháp, cùng bạn tù đàm luận quốc sự, sáng tác thơ văn. “Thi tù tùng thoại” là tác phẩm lưu giữ tình cảm yêu nước và khí phách của những người bị đày ra đảo. Việc học, việc viết giúp cụ nuôi dưỡng tinh thần, bồi đắp hiểu biết và giữ chí hướng phụng sự. Qua những chi tiết ấy, tham luận khắc họa một người trí thức biết vượt lên nghịch cảnh, tiếp tục chuẩn bị cho hành trình hoạt động khi trở về.
Rời chốn lao tù, cụ Huỳnh tiếp tục tìm phương thức cất lên tiếng nói vì dân. Với tham luận về Huỳnh Thúc Kháng và báo Tiếng Dân, ông Trần Trọng Dũng, Phó Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam phân tích trách nhiệm của người cầm bút qua cách cụ lựa chọn đối tượng phụng sự, tổ chức tờ báo và giữ bản lĩnh nghề nghiệp.
Ra số đầu tiên ngày 10/8/1927 tại Huế, Tiếng Dân do cụ Huỳnh làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút. Tờ báo hướng vào những vấn đề thiết thân của xã hội, chuyển tải nguyện vọng dân chúng tới chính quyền, nêu những bất công, phiền nhiễu trong đời sống và góp phần mở mang hiểu biết. Ngay bản chương trình xây dựng tờ báo đã thể hiện rõ những yêu cầu ấy.

Theo ông Trần Trọng Dũng, giữ “Tiếng dân” đòi hỏi sự ngay thẳng cả khi nói với chính quyền và với công chúng. Cụ Huỳnh coi trọng việc chỉ rõ đúng sai, cảnh tỉnh bằng tinh thần xây dựng. Trong điều kiện kiểm duyệt ngặt nghèo, duy trì tiếng nói có trách nhiệm suốt gần 16 năm là biểu hiện của ý chí và bản lĩnh. Bài học cho người làm báo hôm nay là giữ sự thật, gần dân và chịu trách nhiệm về thông tin mình đưa ra.
Tinh thần ấy tiếp tục được thể hiện khi cụ nhận nhiệm vụ trong Chính phủ cách mạng. Trong tham luận trình bày tại hội thảo, Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy Bộ Nội vụ Nguyễn Huy Hưng phân tích những công việc cụ thể của cụ giai đoạn này: kiện toàn tổ chức bộ máy, củng cố chính quyền địa phương, xây dựng cơ sở quản lý công chức, công vụ. Sự tận tâm với dân được thể hiện bằng việc làm cho bộ máy vận hành có nền nếp, rõ nhiệm vụ và trách nhiệm. Thông tư số 1418-NV/PC ngày 16/5/1946 là một dẫn chứng. Nhận thấy các ủy viên hành chính do dân bầu không phải ai cũng thông thạo thủ tục, cụ Huỳnh yêu cầu có nhân viên chuyên môn giúp việc thi hành luật lệ, chỉ thị, nhất là ở cấp tỉnh và huyện. Trong buổi đầu xây dựng chính quyền, cụ đã quan tâm đến tính chuyên môn, ổn định và liên tục của công việc hành chính…

Trình bày tham luận “Lẽ sống hết lòng vì nước vì dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng và giá trị định hướng hiện nay”, PGS.TS Bùi Đình Phong (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) nhấn mạnh: lẽ sống vì nước, vì dân hình thành từ tuổi thanh niên, từng bước phát triển và được giữ gìn nhất quán đến những phút cuối đời cụ.
Đỗ đại khoa, con đường quan trường rộng mở, cụ Huỳnh chọn về quê dạy học, đọc sách, bốc thuốc, tìm hiểu đời sống nhân dân. Những cảnh khổ của đồng bào khiến cụ day dứt, suy nghĩ về con đường đưa dân tộc đến tự cường. Theo PGS.TS. Bùi Đình Phong, mọi suy nghĩ của cụ dần quy tụ về chữ “dân”, được thể hiện bằng sự dấn thân vào phong trào Duy tân và bền bỉ theo đuổi trong các chặng đường hoạt động sau đó.
Lẽ sống ấy cũng giúp lý giải sự lựa chọn của người từng nhiều lần từ chối quan trường, nhưng sẵn lòng nhận trọng trách trong Chính phủ cách mạng. Khi gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, hiểu việc tham gia Chính phủ là làm công bộc của dân, cụ Huỳnh nhận thấy mình còn có thể đem uy tín, tâm lực phụng sự Tổ quốc, đồng bào. Đến những ngày cuối đời, điều cụ quan tâm vẫn là nền độc lập, chế độ dân chủ và tương lai hạnh phúc của quốc dân.

Từ cuộc đời cụ, PGS.TS. Bùi Đình Phong khẳng định giá trị định hướng của lẽ sống đặt Tổ quốc, dân tộc và nhân dân lên trên hết. Chức tước, bổng lộc không chi phối mục đích sống; học vấn và uy tín phải được dùng để làm việc có ích cho dân, cho nước. Học tập cụ Huỳnh vì thế gắn với việc xác định đúng mục đích cống hiến, giữ sự thống nhất giữa điều tâm niệm và hành động, tận tâm với trách nhiệm được giao.