“Vợ nhặt” - tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Kim Lân viết về thời kỳ xảy ra nạn đói năm 1945 tại Thái Bình. Gần đây, chúng tôi được nghe kể thêm một mẩu chuyện về truyện ngắn đặc sắc ấy.

Người thuật lại sự việc trên là anh Nguyễn Phượng (nguyên giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, nguyên giáo sư thỉnh giảng của Đại học Ngoại ngữ Busan) - một người bạn vong niên của tôi. Anh cũng chính là người hầu chuyện cụ Kim Lân trong cuộc nhàn đàm ngày ấy.
Hồi ấy, anh Phượng thường hay đến thư viện Viễn Đông Bác cổ. Vì nhà cụ Kim Lân ở gần đó nên anh mon men đến làm quen. Thời điểm đó là năm 1997.
Anh nhớ lại cảm giác lo lắng trong lần đến tìm nhà văn Kim Lân, những tưởng một nhà văn được nhiều người nể như ông thì sẽ rất khó lân la, làm phiền không phải lúc thì sẽ bị tiễn thẳng. Nhưng không. Cụ đã tiếp anh thoải mái, nhẹ nhàng và bình đẳng. Sự hồi hộp của anh tan biến dần trước sự nồng hậu và có lúc khiêm nhường của nhà văn lão thành.
Trong số những câu hỏi trong cuộc trò chuyện ấy, có vài vấn đề anh đặt ra cho nhà văn Kim Lân liên quan đến truyện ngắn “Vợ nhặt”. Cụ thể là nhan đề của truyện.
- Thưa cụ, GS. Đỗ Đức Hiểu có một bài viết xuất sắc về truyện ngắn “Vợ nhặt”, cụ có đọc chăng?
- Tôi có nghe người ta nói nhưng chưa kịp đọc.
Anh Phượng ngay lúc ấy chia sẻ với nhà văn họ Nguyễn rằng: “Bài viết phân tích rất sắc sảo, tài hoa khiến nhiều người xuýt xoa, thán phục. Trong một đoạn văn xuất thần, tác giả có ước rằng nếu được quyền đặt lại nhan đề của truyện ngắn, ông ấy sẽ đặt tên cho nó là: “Bài ca sự sống” hoặc ít ra cũng là “Chuyện tình ở xóm ngụ cư” hay “Buổi sáng mùa xuân”...”. Nói rồi, anh hỏi:
- Vậy nhan đề “Vợ nhặt” phải chăng chưa lột tả cao độ chủ đề của tác phẩm? Thưa bác, ý bác thế nào?
Ông cụ im lặng hồi lâu rồi mới trả lời: “Các anh thời bây giờ chắc ít biết câu thành ngữ: “vợ nhặt con thêm” nhỉ?”.
Cậu thư sinh ngớ người. Sau đó, anh đã tranh luận với tác giả và đưa ra lập luận có người đã nhận định rằng, với “Vợ nhặt”, anh Tràng đã nhặt được vàng.
Anh tiếp bằng câu chuyện về bài viết của mình trên tờ “Văn học và tuổi trẻ”. Bài phê bình có tên “Người đàn bà vô danh trong truyện ngắn Vợ nhặt”. “Cháu cũng cho rằng chính cô ấy đã có mắt xanh phát hiện người đàn ông hò hát hồn nhiên giữa tai họa và nhanh tay nhặt lấy anh Tràng, chứ không phải anh Tràng là chủ thể của hành động kia”, anh thuật lại lời mình trong cuộc trò chuyện.
Nhà văn nhìn anh, ánh mắt có vẻ ngạc nhiên rồi hỏi nhỏ: “Thế à? Anh cũng thấy thế à?”. Đoạn cụ nói tiếp rằng, việc GS. Đỗ Đức Hiểu muốn đặt tên khác, đó là chuyện của riêng ông ấy”. Ngẫm nghĩ hồi lâu, cụ lại bảo: “Nhưng chúng tôi là nhà văn hiện thực, chúng tôi thấy cuộc sống thô kệch cũng là cái đẹp”.
Nghe cụ nói thấu triệt như vậy, anh Phượng không hùng biện nữa. Anh bèn rào trước đón sau, rồi lấy hết dũng khí, tham vấn cụ về mấy chi tiết trong đoạn cuối. Liệu đoạn kết “Vợ nhặt”, có công thức, dàn dựng theo yêu cầu của bút pháp hiện thực XHCN nên khó thuyết phục.
Nhà văn giọng chùng như dây đàn tháo khóa: “Quả thật không biết nói gì, anh ạ. Một thời như thế”.
Sau một hồi trầm ngâm, trước mặt cha đẻ của tác phẩm, anh mạnh dạn phân tích: “Vậy ra đó là lý do anh Tràng đã dùng hai hào để mua dầu phải không bác? Có hai hào dầu là có ngọn đèn. Có ngọn đèn là có thứ ánh sáng kỳ diệu của sự sống soi đường cho những ý nghĩ mạnh bạo hướng tới một sự đổi đời...”.
Anh kể tiếp với chúng tôi: “Lúc ấy, ông cụ không nói gì, chỉ nhìn tôi bằng ánh mắt rất lạ. Cho đến tận bây giờ tôi vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa ánh nhìn của cụ vào buổi non trưa hôm đó”.