Đã hơn 5 thế kỷ thiên di, từ xứ Thủy Tú - Diêu Trì - Minh Châu năm Ất Mão 1495 đến làng Quan Châu mùa Xuân năm Nhâm Thìn 1822, vùng “đất mở” luôn được bồi đắp phù sa mà đời người khó thể quên.

Dấu ấn 5 thế kỷ làng Quan Châu
Lần giở Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (soạn năm 1776) thì Minh Châu thuộc tổng Lỗ Gián huyện Hòa Vang, phủ Điện Bàn.
Trong sách Địa bạ Gia Long (soạn 1814 - 1818) và Đồng Khánh địa dư chí (soạn 1887 - 1890), Quan Châu vẫn còn tên Minh Châu và không còn thuộc huyện Hòa Vang mà thuộc tổng Thanh Quýt trung, huyện Diên Khánh, phủ Điện Bàn.
Sau Cách mạng Tháng Tám, từ 1947 đến nay Quan Châu thuộc xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang (hiện nay thuộc phường Hòa Xuân, thành phố Đà Nẵng).
Theo nhà nghiên cứu Võ Văn Hòe, làng được thành lập do những người thuộc 4 họ Trần, Đoàn, Lê, Huỳnh, trong đó tộc Trần là chánh tiền hiền.
Trong bài cúng tiền hiền của làng, họ Trần luôn được xướng là “Thủ khai thủy thống”, tộc Đoàn là “Toản thống khai khẩn”.
Điều đặc biệt là bốn tộc này không phải di cư từ phía bắc vào như những làng khác mà từ làng Diêu Trì ở phía tây (thuộc xã Hòa Nhơn trước đây) tiến xuống vùng đồng bằng phía đông có điều kiện thuận lợi hơn để khai khẩn lập làng.
Hành trình hơn 500 năm dằng dặc, ơn đất đai nên trải qua bao cuộc thiên di, dù có đổi thay về đơn vị hành chính, xác lập lại địa đồ, thì “cương thổ tâm hồn” vẫn neo đậu trong lòng con dân xứ sở làng Quan Châu.
Xuyên suốt 5 thế kỷ dựng xây, ơn tiên tổ, rồi đây dù có đổi thay cũng mong mãi tiếp nguồn mạch này cho con cháu ngàn năm sau còn thương cây nhớ cội.
Từ lớp lớp phù sa đến khát vọng đổi mới
Từ dấu mốc lịch sử ấy, vùng đất này luôn tiếp biến để làm giàu thêm giá trị văn hóa của mình.
Các giá trị quý báu về văn hóa truyền thống của vùng đất đã đan kết thành lòng tự hào, niềm tin và là điểm tựa cho hành trình đổi mới, phát triển của quê hương, làng xóm.
Chính những trang sử làng quê buổi đầu dày công khai khẩn, khai canh, vun đắp, lập làng đã nổi bật đạo nghĩa Tiền hiền.
Gia phả một vùng đất không dễ mất đi khi hậu thế luôn ghi nhớ mạch nguồn đối với công đức của tiền nhân một thuở.
Ở đó, có nghĩa nặng, tình thâm đơm hoa kết trái, có tổ ấm được dựng xây, trao truyền. Ở đó, có buồn vui dầu dãi, có mưa nguồn chớp bể, có lớp lớp phù sa với người đi qua rồi người ở lại.
Phù sa dưỡng nuôi vùng đất không chỉ hạt lúa, củ khoai mà còn có những ẩn ngữ của trầm tích văn hóa.
Ở đó, đâu chỉ có biền bãi ruộng đồng, còn lưu dấu sự kiện, thể hiện khát vọng nhân sinh của cộng đồng, làng xã.
Bóc tách từ phù sa lịch sử 530 năm tiền nhân mở đất, để xác lập tâm thế bảo tồn cội nguồn lịch sử, văn hóa, thiên nhiên cho bức địa đồ quê hương trường tồn.
Lớp lớp cháu con phát huy giá trị cha ông để lại làm cho đất đai phồn thịnh, người thêm tiến bộ, bước vào thế giới hội nhập, phát triển, văn minh. Lớp lớp người đi trước gian nan mở lối để đời sau có được xứ đất, tên làng.
Rồi thế hệ người sau tiếp nối công lao khai sáng của người trước để quê hương được rạng rỡ.
Trân trọng di sản của tiền nhân, khơi gợi giá trị cốt lõi để thiết thực bồi đắp truyền thống quê hương, giềng mối xóm làng, bồi bổ đạo hiếu tiền hiền - uống nước nhớ nguồn xứ Quảng.
Kế thừa và tỏa rạng danh xưng Quan Châu, vùng đất mở được định hình từ lịch sử với một tâm thế mới, với khao khát đổi mới sáng tạo, tiếp nối “tầm nhìn mở”, đã, đang và sẽ được các thế hệ con dân của làng tiếp bước, phát huy.