VHXQ - Trong các cuộc tế lễ ở xứ Quảng, trang phục của những người hành lễ được sử dụng theo từng vị trí và lệ riêng của mỗi địa phương. Từ chánh tế, bồi tế, phân hiến đến học trò lễ, mỗi người có một vị trí và cách phục sức tương ứng, theo lệ của từng đình, từng làng.

Từ vùng đồng bằng, đô thị, ven biển, hải đảo đến miền núi phía Tây xứ Quảng, hằng năm vào mỗi dịp “Xuân Thu nhị kỳ”, tại các đình làng, lăng, miếu người dân tổ chức cúng tế những vị thần bảo hộ trong cuộc sống như thần Thành hoàng, thần Nam Hải, Bà Thu Bồn, Bà Chợ Được...
Mỗi cuộc tế có cách sắp xếp riêng về người tham gia và vị trí hành lễ như chánh tế, bồi tế, phân hiến, đông xướng, tây xướng, học trò lễ... Tùy theo từng nơi mà mỗi vị trí trong đội tế có cách phục sức khác nhau. Màu áo, kiểu áo, khăn đội đầu, mão và các phụ kiện đi kèm vừa tạo sự trang nghiêm cho cuộc tế, vừa giúp nhận biết phần nào vị trí của người hành lễ.
Theo một số lệ tế được lưu truyền, chánh tế thường mặc áo rộng màu đỏ, đội khăn niền hoặc mão màu đỏ; có nơi dùng màu xanh hoặc vàng. Tả hữu phân hiến thường mặc áo rộng màu xanh, đội khăn niền xanh; bồi tế mặc áo dài đen, đội khăn niền đen. Tuy nhiên, cách phục sức này không giống nhau ở tất cả các cuộc tế. Tùy từng ngôi đình, lăng, miếu, từng làng mà màu áo, kiểu khăn, mão và cách sắp xếp đội tế có thể thay đổi. Vì vậy, cùng một chức danh nhưng trang phục ở mỗi nơi đôi khi cũng khác nhau.
Chánh tế là người chủ lễ, thực hiện những nghi thức chính trước hương án. Bộ áo rộng, thân dài, tay áo lớn tạo vẻ trang nghiêm trong lúc hành lễ. Tả hữu phân hiến và bồi tế đảm nhận những phần việc khác nhau, đứng ở những vị trí tương ứng trước hương án và phối hợp cùng chánh tế trong từng nghi thức.
Đông xướng, tây xướng đảm nhận việc xướng các nghi thức. Hai vị thường đội mão, đi giày có quấn xà cạp, trang phục theo kiểu quan văn. Từ lời xướng, các bước hành lễ được thực hiện lần lượt theo trình tự.
Học trò lễ làm những công việc theo lời xướng như dâng hương, dâng rượu, dâng lễ. Theo một số lệ tế, học trò lễ mặc áo kiểu quan văn màu đen, xanh hoặc vàng; lưng thắt đai vải, đầu đội mão quan văn, chân đi giày có quấn xà cạp. Trang phục thường được may tương đối đồng bộ, tạo sự chỉnh tề trong đội hình.
Bên cạnh đội tế, phụ nữ cũng tham gia một số lễ hội dân gian như lễ Rước Cộ Bà Chợ Được, Lễ hội Bà Thu Bồn… với các phục sức riêng. Áo dài, khăn đóng hoặc trang phục cùng màu được sử dụng tùy từng lễ hội. Màu đỏ được sử dụng khá phổ biến, nhưng không phải là quy định chung của trang phục nữ trong các nghi lễ, lễ hội ở xứ Quảng.
Nhìn vào trang phục, có thể nhận ra phần nào vị trí của người tham gia hành lễ. Màu áo, kiểu áo, khăn đội đầu và những phụ kiện đi cùng góp phần tạo nên diện mạo của đội tế, đồng thời cho thấy những nét riêng trong lệ tế của từng địa phương.

Nếu màu áo giúp nhận biết vị trí của người hành lễ thì hoa văn tạo thêm nét riêng cho từng bộ lễ phục. Trên một số bộ áo có hình rồng, phượng, mây, hoa lá, chữ Thọ, chữ Phúc bằng chữ Hán cách điệu hoặc những mô-típ cát tường. Có loại dùng vải gấm với hoa văn dệt sẵn; có loại thêu bằng chỉ màu trên thân áo, ngực áo, tay áo hoặc hai tà. Cách thể hiện cũng không giống nhau: có bộ hoa văn dày, nổi bật; có bộ chỉ điểm vài họa tiết ở những vị trí nhất định.
Những mô-típ này cũng thường xuất hiện trên nhiều loại trang phục truyền thống ở Việt Nam, chứ không riêng xứ Quảng. Khi đưa vào lễ phục, chúng được thể hiện tùy theo kiểu áo, chất liệu và cách may của từng nơi. Vì thế, ngoài màu áo, kiểu dáng và hoa văn cũng góp phần nhận diện từng bộ lễ phục.
Đi cùng áo còn có khăn niền, khăn đóng, mão, đai vải, giày và xà cạp. Mão quan văn tạo dáng riêng cho người xướng lễ, học trò lễ; khăn niền, khăn đóng được dùng ở một số vị trí khác nhau. Giày và xà cạp thường đi cùng những bộ trang phục theo kiểu quan văn. Những phụ kiện này cùng với áo tạo thành bộ lễ phục được sử dụng trong cuộc tế.
Lễ phục cũng thay đổi theo thời gian, khi các bộ áo cũ đã hư hỏng, một số nơi phải may lại dựa vào bộ lễ phục còn lưu giữ hoặc theo lời chỉ dẫn của những người từng tham gia tế lễ. Từ màu vải, kiểu áo, hoa văn đến khăn, mão và các chi tiết đi kèm đều được cân nhắc để bộ mới giữ được dáng vẻ của bộ cũ, tuy nhiên chất liệu và cách may không còn như trước.
Ngày nay, những sắc áo lễ vẫn hiện diện trong các kỳ tế lễ ở đình, miếu tại các làng quê và ngay giữa phố phường hiện đại của xứ Quảng, mang theo những dấu nét quen thuộc của lễ phục truyền thống. Dẫu là một tấm áo cũ được truyền qua nhiều kỳ tế lễ hay một tấm áo mới được may theo dáng xưa, hình dáng, hoa văn có thể thay đổi ít nhiều, nhưng màu sắc, cách phục sức và nghi lễ vẫn được cộng đồng gìn giữ. Những sắc áo ấy không chỉ góp phần tạo nên diện mạo riêng của mỗi ban tế lễ, mà còn là một phần nếp xưa đang được gìn giữ và tiếp nối trong đời sống hôm nay.