VHXQ - Nếu dâu tằm, khung dệt tạo ra lụa thô nổi tiếng mịn màng thì màu sắc từ hệ động thực vật nhiệt đới và khoáng thạch lại nhuộm ra bảng màu đa sắc trên phục trang cư dân xứ Quảng...

Trong lịch sử, xứ Quảng được biết đến là vùng đất giàu có tài nguyên, sản vật. Thực vậy, rất dễ để chúng ta có thể tìm thấy những ghi chép cách đây hàng thế kỷ miêu tả về sự giàu có của vùng đất này.
Vào cuối thế kỷ 18 (1776), học giả Lê Quý Đôn trong tác phẩm Phủ biên tạp lục ghi lại rằng “Thuận Hóa không có nhiều của cải, đều lấy ở Quảng Nam, vì xứ Quảng Nam là đất phì nhiêu nhất thiên hạ. Người Thăng Hoa, Điện Bàn biết dệt vải lụa vóc đoạn lĩnh là, hoa màu khéo đẹp chớ chẳng kém Quảng Đông, ruộng đồng rộng rãi, gạo lúa tốt đẹp, trầm hương, tốc hương, sừng tê, ngà voi, vàng bạc, đồi mồi, trai ốc, bông, sáp, đường mật, dầu sơn, cau, hồ tiêu, cá muối, gỗ lạt, đều sản xuất ở đấy”.
Trước thời Lê Quý Đôn, tư liệu của các nhà truyền giáo vào khoảng thế kỷ 17 đã ghi nhận sự phong phú về màu sắc trong trang phục của người dân xứ Quảng. Xứ này không chỉ giàu có về sản vật mà còn “giàu có về bảng màu”. Lụa được sử dụng rộng rãi, từ người giàu đến người nghèo đều có lụa mặc. Lụa dồi dào đến mức còn được dùng để đan lưới, buộc thuyền.
Nếu dâu tằm, khung dệt tạo ra lụa thô nổi tiếng mịn màng thì màu sắc từ hệ động thực vật nhiệt đới và khoáng thạch lại nhuộm ra bảng màu đa sắc trên phục trang cư dân xứ Quảng. Màu xanh chế tác từ lá chàm; màu vàng chế tác từ lõi gỗ mít, lá bàng, vỏ cây núc nác, hoa cúc; màu đỏ chế tác từ gỗ vang, cánh kiến đỏ, nghệ và vôi; màu nâu từ củ nâu, sỏi trắng, bùn và nhiều sắc màu trung gian khác…
Ngày nay, kỹ nghệ nhuộm vải, lụa truyền thống gần như đã thất truyền, khó lòng truy vết, song, sắc màu quá khứ vẫn còn lấp lánh trong các bút ký, tư liệu lịch sử. Khoảng năm 1618 - 1622, giáo sĩ Cristoforo Borri (Xứ Đàng Trong năm 1621) ghi nhận cư dân xứ này sử dụng rộng rãi chất liệu tơ lụa để may trang phục hằng ngày, kể cả giới thượng lưu lẫn thường dân. Kiểu dáng, màu sắc trang phục mang tính tầng lớp và đặc trưng theo giới tính.
Phụ nữ ăn mặc kín đáo, giản dị và trịnh trọng. Họ diện năm, sáu chiếc váy lụa trơn dáng dài chồng lên nhau từ thắt lưng trở xuống. Cái sau ngắn hơn cái trước vài đốt ngón tay để lộ các lớp vải. Thân trên khoác vải vắt chéo như bàn cờ, phủ ngoài bằng tấm voan mịn, mỏng. Khi ra đường, họ đội nón lớn diềm rộng che hết mặt được dệt từ lụa và kim tuyến.
Đàn ông không nai nịt mà quàng một tấm vải lớn, mặc thêm năm sáu chiếc áo dáng dài, rộng, có ống tay to dài như tu sĩ Dòng Biển Đức. Từ thắt lưng trở xuống xẻ tà, tạo hiệu ứng xòe tròn như đuôi công khi có gió thổi. Giới văn nhân trí thức ăn mặc trịnh trọng hơn với mũ kiểu giám mục và áo choàng dài.

Màu sắc trang phục vô cùng đa dạng và sặc sỡ. Cả nam và nữ đều phối nhiều màu sắc khác nhau trên các lớp áo váy. Lớp voan mỏng của phụ nữ giúp hiển lộ các sắc màu rực rỡ, duyên dáng như mùa xuân. Đàn ông ra phố phô trương sự hài hòa màu sắc, kết hợp các tà áo uyển chuyển. Ngược lại, giới văn nhân không chuộng lối màu mè lòe loẹt; họ mặc áo choàng màu đen bên ngoài, kết hợp khăn quấn cổ và cổ tay bằng lụa màu da trời.
Năm 1695, Thích Đại Sán - một thiền sư Trung Hoa khi ngang qua Quảng Nam có chép rằng “Bấy giờ là 28 tháng Giêng. Hai bên bờ người đi, gái nhiều hơn trai, áo mặc nhuộm màu hồng màu lục”. (Hải Ngoại kỷ sự).
Một danh sĩ Trung Hoa khác là Thái Đình Lan, vào năm 1835 khi thuyền của ông bị trôi dạt vào bờ biển Đàng Trong và được quan dân ở đó cứu vớt. Những chuyện mắt thấy tai nghe trong chuyến hành trình này được ông ghi chép rất cẩn thận trong tác phẩm Hải Nam tạp trứ, trong đó có chi tiết về trang phục của người xứ Quảng: “thuyền dừng đậu trong vùng biển Việt Nam. Sang ngày hôm sau là ngày 13 tháng 10 năm Ất Mùi có hai quan chức cửa tấn đi thuyền nhỏ đến áp mạn thuyền chúng tôi. Họ đều chít khăn lụa đen, mặc áo đen tay hẹp, quần lụa điều, đi chân trần (các quan Việt Nam đi đâu đều đi chân đất, áo mặc không phân biệt nóng lạnh, ngay giữa mùa đông cũng mặc áo quần lụa mỏng. Người quyền quý phần nhiều dùng hai màu xanh (lam) và đen; khăn chít đầu cũng thế, quần thì đều mặc quần lụa điều)”.
Màu sắc trang phục không chỉ biểu hiện mỹ cảm thị giác của cá nhân hay một cộng đồng. Nó phần nào biểu hiện của hệ sinh thái tự nhiên, kinh tế, văn hóa, và tư tưởng của một vùng đất trong những giai đoạn lịch sử khác nhau. Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, với bối cảnh mấy trăm năm trước chưa có điện, mùa mưa ẩm tối kéo dài, xu hướng lựa chọn các gam màu nóng, sáng là điều dễ hiểu. Hơn nữa, văn hóa, tín ngưỡng phương Đông tin rằng các màu nóng, sắc độ sáng đại diện cho dương, sự may mắn. Các gam màu lạnh, tối đại diện cho âm.
Tuy nhiên, trên hết vẫn là sự ảnh hưởng của mẹ thiên nhiên, hệ sinh thái phong phú, đa dạng cho phép cư dân xứ Quảng xây dựng một bảng màu đa sắc, gần gũi với tự nhiên. Đó cũng là cách giao hòa chặt chẽ giữa con người và môi trường sống - một giá trị cốt lõi mà con người hiện đại, dù sở hữu công nghệ và năng lực sản xuất vượt bậc, chưa chắc đã duy trì được. Những kỹ nghệ của tiền nhân, vì thế, không chỉ gợi lại một cách ứng xử với tự nhiên, mà còn có thể mở ra những cách để di sản xứ Quảng tiếp tục sống trong đời sống hôm nay, nếu chúng ta biết trân trọng, kế thừa và phát huy.