Sông nước chính là “ký hiệu nhận diện” trong đời sống xã hội của đồng bằng châu thổ Cửu Long, kể cả trong lĩnh vực văn học.

Nhìn dấu vết phù sa văn học miền Tây in hằn trên rường cột lịch sử văn học Việt Nam, có thể thấy rõ nhất 3 mùa “đỉnh lũ” đầy ấn tượng, cho đến nay vẫn còn nguyên dấu ấn dẫu đã trải qua thêm bao mùa nước nổi.
Thế hệ định hình bản sắc văn chương Nam Bộ sau 1975
“Đỉnh lũ thứ nhất” là lớp nhà văn đã viết và thành danh, sau năm 1975 vẫn tiếp tục sáng tác và trở thành trụ cột văn chương Nam Bộ. Họ là những tên tuổi mà chỉ cần nhắc đến, người đọc cả nước hình dung ngay đến vùng đất, con người và khí chất phương Nam.
Có thể kể đến: Nguyễn Quang Sáng với Mùa gió chướng và Cánh đồng hoang, Anh Đức với Hòn đất, Sơn Nam với Hương rừng Cà Mau và hàng loạt tác phẩm khảo cứu và truyện ký về Nam Bộ, Đoàn Giỏi với Đất rừng phương Nam... Tất cả hợp thành một quần thể vừa đa dạng, vừa hài hòa.
Đây là thế hệ không chỉ nối tiếp di sản của các nhà văn quốc ngữ Nam Bộ tiên phong ở thế kỷ 20, mà còn là những nhà văn lớn với khối lượng tác phẩm đồ sộ, được chuyển thể phim, cải lương, kịch sân khấu, phổ nhạc… tạo được tiếng vang cộng hưởng nghệ thuật có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong và ngoài nước.
Mỗi tác giả định hình một nét riêng, song khi ghép lại, tất cả đã góp phần kiến tạo nên mạch nguồn vững chắc cho các thế hệ kế tiếp, khích lệ và dẫn dắt lớp trẻ trong hành trình cầm bút, để rồi từ đó hình thành nên diện mạo đặc sắc của văn học đồng bằng sông Cửu Long trong suốt nửa sau thế kỷ 20.

Thế hệ bồi tụ dòng chảy văn chương miền Tây
“Đỉnh lũ thứ hai” gồm những cây bút thành danh và trở thành trụ cột của văn học miền Tây trong 25 năm cuối thế kỷ 20. Đây là một thế hệ đông đảo, trưởng thành sau 1975, vừa bước ra khỏi cuộc chiến đầy đau thương mất mát, vừa đối diện với đời sống hậu chiến trong xã hội bao cấp và chứng kiến bước ngoặt đổi mới đất nước từ cuối thập niên 1980.
Chính bối cảnh ấy đã hun đúc trong họ những trải nghiệm đa chiều, tạo nên một bước giao thời trong nhận thức và chủ đề sáng tác.
Đã có sự chuyển biến, nhưng trong giai đoạn này, miền Tây vùng Đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn được xem là “miệt thứ”, xa các đô thị và trung tâm văn học lớn… Sự cách trở về địa lý, không khí văn chương, điều kiện xuất bản và cơ hội giao lưu, học hỏi khiến văn học miền Tây có phần thiệt thòi hơn các nơi khác.

Nhưng chính trong hoàn cảnh ấy, các cây bút đã kiên trì tìm đường, khẳng định giọng điệu riêng cho tác phẩm, như những cồn bãi nổi lên dọc theo dòng sông, được định danh và in dấu rõ nét trong tâm trí độc giả đương thời.
Tiêu biểu cho giai đoạn này có thể kể đến các tác phẩm như: Bè trầm của Nguyễn Trọng Tín, Con chó và vụ ly hôn của Dạ Ngân, Thị trấn không đèn của Trầm Hương, Tiếng vạc sành của Phạm Trung Khâu, Chim hạc bay về của Ngô Khắc Tài, Tiếng chuông trôi trên sông của Vũ Hồng…
Bên cạnh đó còn có các tác giả đoạt giải các cuộc thi lớn của cả nước, gây được dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả như: Trần Kim Trắc, Đinh Thị Thu Vân, Nguyễn Lập Em, Bích Ngân, Lê Đình Trường, Hồ Tĩnh Tâm, Trúc Linh Lan, Ngọc Phượng…
Thế hệ này đã góp phần quan trọng trong việc đưa văn học miền Tây thoát khỏi “rào vách vùng miền” để hòa nhập vào đời sống văn học cả nước. Họ không chỉ viết về nỗi buồn, niềm vui của miền sông nước, mà còn dám đối diện với những vấn đề xã hội rộng lớn hơn. Từ sự tha hóa của con người sau chiến tranh, đến những bi kịch của đời sống đô thị hóa...

Bước sóng mới của văn học
“Đỉnh lũ thứ ba” là những cây bút xuất hiện và trưởng thành trong 25 năm đầu thế kỷ 21. Bên cạnh một số tác giả đã sáng tác từ trước, tiếp tục bồi đắp thêm dấu ấn, thì một lớp tác giả mới và trẻ trung, sung sức thuộc các thế hệ 7X, 8X, 9X đã bước ra sân khấu văn học, mở đường cho một giọng nói khác biệt, trở thành thế hệ chủ lực của văn học miền Tây, tạo nên những đợt sóng nối tiếp, dồn dập và nhiều lấp lánh.
Mở đầu cho sự bùng nổ này, phải kể đến tác phẩm Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư đã từng làm nên đợt sóng với phạm vi rộng lớn mà dư âm vẫn còn đến hôm nay, cùng hàng loạt tác phẩm sau đó của chị như Gió lẻ, Sông, Đảo, Biên sử nước, Trôi…
Bên cạnh đó, văn học miền Tây Nam Bộ còn góp mặt với sự cách tân trong giọng điệu thơ như các tác phẩm: Cho dù Nátita của Đông Triều, Bụi cám bay của Võ Mạnh Hảo, Những mảnh ghép không logic của Trương Trọng Nghĩa, Chín nhánh da vàng của Khét, Nỗi buồn đập cánh của Nguyễn Đức Phú Thọ, Khắc khoải nâu của Vĩnh Thông, Cỏ từ chân đá của Phan Duy...

Nhiều tác phẩm nhận được sự cộng hưởng, chuyển thể thành phim, kịch sân khấu, nhạc… Đây cũng là giai đoạn khoảng cách địa lý giữa nông thôn và thành thị dần thu hẹp, điều kiện tiếp cận tri thức, sách báo và các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng thuận lợi nhờ sự bùng nổ công nghệ truyền thông đã mang vào văn học một tinh thần mới: nhanh nhạy, giàu tương tác, dễ dàng tiếp cận các lý thuyết, trào lưu văn chương toàn cầu, dám thử nghiệm nhiều cách viết mới táo bạo và cá tính, phản ánh sự dịch chuyển trong quan niệm sống, quan niệm nghệ thuật và cả trong cái nhìn về bản sắc văn hóa vùng miền.
Chính vì vậy, “đỉnh lũ thứ ba” không chỉ kế thừa mạch nguồn từ hai giai đoạn trước, mà còn mở ra những khả năng mới, mang tính thách thức và hội nhập. Nếu hình dung bằng hình tượng dòng sông, thì đây là đoạn sông nhiều sóng gió, có lúc cuộn xoáy, có lúc lan rộng, nhưng chắc chắn đang đẩy văn học miền Tây tiến nhanh hơn ra biển lớn.
Trong giai đoạn đầu thế kỷ 21, có thể thấy hầu hết tác giả ở miền Tây vẫn trung thành với việc phản ánh vùng đất và con người quê hương. Một số tác phẩm tái hiện lát cắt cuộc sống gần như nguyên vẹn, lấy cái “chân” trong “chân-thiện-mỹ” làm căn cốt.
Văn học miền Tây, qua nhiều thế hệ, vẫn chuộng cái “hiền”. Không thiên về việc mổ xẻ, phơi bày hay phản ánh sự dữ dằn của cái ác, mà chủ yếu hướng ngòi bút vào việc khắc họa tình người, tình đời như một lời khẳng định rằng giữa những góc tối, lòng nhân ái vẫn luôn tỏa sáng.
Ngay cả trong Cánh đồng bất tận - tác phẩm chứa đựng bao dữ dội, tối tăm và nghẹt thở, thì câu cuối cùng của nhân vật cũng khép lại truyện bằng một niềm tin “là trẻ con, đôi khi nên tha thứ lỗi lầm của người lớn”. Đó chính là bản chất của văn học miền Tây đầu thế kỷ 21: hồn hậu, nhân từ, như dòng nước Cửu Long, dẫu có khi cuộn sóng dữ dội nhưng sau cùng vẫn bao dung, rộng mở và ôm ấp muôn loài.