Người xứ Quảng

Đà Nẵng xưa trong mắt “Sư tử Anh Cát Lợi”

VÂN TRÌNH 20/09/2026 07:30

ĐNCT - Cuối thế kỷ XVIII, không chỉ người Pháp dòm ngó mà cả người Anh cũng đã để mắt đến Đà Nẵng. Với một tầm nhìn địa chiến lược, họ xem đây là “một chỗ đứng lâu dài ở phương Đông...

Bản đồ Vịnh Turon (Đà Nẵng) do hai sĩ quan Hải quân Hoàng gia Anh Arthur Gore & Philip Bromfield vẽ năm 1764. Ảnh: Tư liệu.
Bản đồ Vịnh Turon (Đà Nẵng) do hai sĩ quan Hải quân Hoàng gia Anh Arthur Gore & Philip Bromfield vẽ năm 1764. Ảnh: Tư liệu

Eo biển Gibraltar của phương Đông

Cuốn du ký - du khảo A Voyage to Cochinchina, in the Years 1792 and 1793 được xuất bản tại London năm 1806 và được Nguyễn Thừa Hỷ chuyển dịch Việt ngữ, có tên Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792 - 1793), NXB Thế Giới ấn hành.

Tác giả John Barrow, tham gia phái đoàn Anh với tư cách là quản gia của đại sứ Macartney, không chỉ mô tả khá chi tiết về “phong tục, tính cách và tình cảm của những người dân bản xứ” mà còn dành nhiều trang viết về vị thế Đà Nẵng (Turon) của xứ Nam Hà (Đàng Trong) dưới thời Tây Sơn, triều vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản).

J.Barrow giới thiệu vịnh Đà Nẵng như sau: “Vịnh Hàn Sơn, hay thường được ghi dấu trên các tấm hải đồ là Đà Nẵng (Turon), mà về mặt an toàn và thuận tiện, ít có vịnh nào ở thế giới phương Đông sánh được bằng nó, và chắc rằng không vịnh nào vượt trội hơn nó. Nó nằm ở vĩ độ 160 7’ Bắc”.

Ông chỉ rõ: “Ngoài tính bất khả xâm phạm của mình, nó (Đà Nẵng) có một lợi thế rất quan trọng của một cửa sông và cảng biển thuận tiện, được đảm bảo an toàn chống mọi loại gió thổi bất kỳ mùa nào trong năm, đáp ứng mọi yêu cầu cho một căn cứ hải quân lớn, nơi tàu bè trong mọi lúc đều có thể đậu lại và tu sửa, nơi có dòng sông làm màu mỡ cho nhiều thung lũng nhìn ra các bãi biển của vịnh. Ở gần một cù lao nhỏ, nối liền với bán đảo bằng một doi đất lộ ra ở mực nước thấp, các tàu thuyền ở mọi kích cỡ đều có thể kéo lên bãi lật nghiêng để sửa chữa. Đối diện với nơi đó, trên bán đảo là một khu đất bằng phẳng đủ rộng cho một thị trấn nhỏ, với một quân xưởng hải quân và đủ mọi loại quân kho, hoàn toàn có thể phòng thủ an toàn bởi một nhóm ít người”.

Barraw còn nhắc đến nhiều sản vật từ biển Đà Nẵng, trong đó có “những tổ yến thu lượm được rất nhiều trên những cụm lớn các đảo chạy song song với bờ biển mà trên các hải đồ có tên Paracels (tức Hoàng Sa)”.

Thiết nghĩ, đây chính là bằng chứng sinh động xác thực chủ quyền của Việt Nam trên Hoàng Sa cuối thế kỷ XVIII.

Với lợi thế quan trọng và nguồn hàng hóa phong phú nói trên, J.Barrow đi đến nhận định khá quan trọng: “Doi đất bán đảo Đà Nẵng (hay Hàn Sơn) đối với xứ Nam Hà chính là eo Gibraltar đối với nước Tây Ban Nha”.

Móng vuốt của “sư tử Anh Cát Lợi”

Khi đến Đà Nẵng, nhà du hành người Anh J.Baraw đã biết đến Hiệp ước Versailles năm 1787, trong đó có việc Nguyễn Ánh đồng ý cắt vịnh Đà Nẵng và bán đảo cùng những đảo lân cận từ Hội An ở phía nam và Hải Vân ở phía bắc cho Pháp để đổi lấy việc nước này đưa quân đội, vũ khí sang giúp đánh nhà Tây Sơn.

Tuy nhiên, do nhiều yếu tố, đặc biệt là cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 nổ ra 2 năm sau đó, lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế, nên Hiệp ước này không được thi hành.

Thế nhưng, là người đầu tiên giới thiệu Hiệp ước Versailles trong cuốn A Voyage to Cochinchina, in the Years 1792 and 1793, với tầm nhìn địa chính trị, J.Barraw cảnh báo nước Anh rằng “những ý đồ của nước Pháp khi muốn đứng chân vững chắc trên khu đất này (tức Đà Nẵng) của miền duyên hải, được thể hiện khá lộ liễu qua toàn bộ giọng điệu của bản hiệp ước nói trên, chính là nhằm xây dựng và trang bị cho một lực lượng hải quân mà một ngày nào đó sẽ gây lo sợ cho các vùng lãnh thổ mà chúng ta chiếm hữu ở phương Đông. Và hoàn toàn không thể nói chắc rằng mưu toan đó không thể tiếp tục thực hiện, rằng điều mà nước Pháp quân chủ chỉ mới dòm ngó thì nước Pháp đế chế sẽ tiếp tục hoàn tất”.

Theo J.Baraw, Đà Nẵng có vị trí khá chiến lược trong công cuộc buôn bán, làm ăn ở phương Đông, nhất là với Trung Quốc: “Nếu chiếm được bán đảo Đà Nẵng quan trọng đó thì nó có thể đảm bảo an ninh cho hạm đội quý giá của chúng ta trong công việc buôn bán ở Trung Quốc”.

Nhấn mạnh “mọi cố gắng của chúng ta lúc này phải nhằm để giữ vững những cái mà mình đã có được, để bảo vệ an toàn cho nền thương mại mà tới nay đã làm cho chúng ta có thể đọ sức với một kẻ địch ngoan cường và hùng mạnh”, Barraw đi tới ý tưởng rằng: “Nếu cần thì những móng vuốt của con sư tử Anh Cát Lợi phải giương ra để có thể vồ lấy mọi điểm có thể, làm gia tăng những gì mà lòng dũng cảm của người Anh và tinh thần siêng năng mạo hiểm của nước Anh đã giành được và đưa thêm nó vào những lãnh địa nguyên bản của nước Anh”.

Đáng chú ý, J.Barraw cho hay, trong thời gian lưu lại Đà Nẵng hơn 20 ngày, một số thành viên phái bộ Anh đã “tranh thủ” thực hiện hành vi khảo sát để “có cái nhìn tổng quan và chính xác về cảng biển và vịnh biển tuyệt vời này”. Theo đó, họ chèo thuyền cập bến ở bờ phía đông để đo một đường cơ bản trên dải cát và tính những góc cần thiết để xác định vị trí những điểm trọng yếu nhất. Một sĩ quan của tàu Lion còn muốn thăm dò đường sông dẫn đến Hội An.

Tất nhiên, những hoạt động do thám này không qua mắt được quan quân nhà Tây Sơn đang đồn trú tại Đà Nẵng và phái đoàn Anh Cát Lợi bị nghiêm khắc cảnh cáo “những hành động đo đạc như vậy sẽ không tái diễn nữa”.

(0) Bình luận
x
Nổi bật
Đà Nẵng xưa trong mắt “Sư tử Anh Cát Lợi”
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO