Hồ sơ - Tư liệu

Đất xưa chữ cũ

NGUYỄN HOÀNG THÂN • 06/10/2026 17:27

VHXQ - Từ địa bạ, gia phả, bia ký đến sắc phong, hương ước. . . mỗi dòng chữ cổ đều mở ra một góc diện mạo xứ Quảng: địa danh, dân cư, sự kiện, tín ngưỡng và đời sống cộng đồng. Tư liệu xưa kể lại hành trình mở cõi, dựng làng, giao thương và bảo lưu hồn cốt văn hóa qua nhiều thế kỷ.

HV TRUYỀN. CÔNG VIÊN BIỂN ĐÔNG
Một vùng không gian văn hóa xứ Quảng rộng lớn, nơi lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa và di sản Hán Nôm qua bao thế hệ. Ảnh: Kim Liên

Diện mạo vùng đất

Địa danh đất Quảng được ghi chép liên tục trong nhiều thư tịch cổ, từ Ô châu cận lục, Phủ biên tạp lục đến địa bạ Gia Long, cho thấy đây là vùng đất có lịch sử từ lâu đời. Hệ thống địa danh đã phản ánh khá đầy đủ diện mạo tự nhiên và không gian cư trú của vùng đất. Trong đó, mỗi dạng địa hình đều để lại dấu ấn qua tên gọi cụ thể: rừng có Khê Lâm, núi có Dương Sơn, đá có Thạch Bồ, biển có An Hải, khe có Thanh Khê, suối có Lỗ Giản, ngòi nước có Quán Khái, bàu có Bàu Rơi, đồng vườn có Lộc Mĩ Đồng Vườn, bãi có An Châu và cây cối có Cây Tràm... Sự hội tụ của núi, rừng, đồng bằng, sông suối và biển vừa tạo nên tính đa dạng địa hình, vừa gợi nguồn cảm hứng cho hình tượng ca từ “núi trong lòng thành phố, phố trong lòng biển khơi” của bài hát Đà Nẵng tình người.

Hệ thống địa danh còn phản ánh quá trình mở rộng không gian cư trú về phía nam và phía đông. Những yếu tố Bồ, Đà, La, Trà được cho có nguồn gốc Chăm nhưng đã gia nhập hệ thống địa danh cho thấy sự giao lưu, thừa tiếp và hòa hợp văn hóa Việt - Chăm trong tiến trình Nam tiến. Đồng thời yếu tố “đông” xuất hiện nhiều hơn “tây”, phản ánh xu hướng phát triển về đồng bằng và ven biển, bởi phía tây là núi rừng, địa bàn của “sách”, “tộc”.

Bản đồ hành chính qua từng thời kỳ hiện lên từ những trang liệu Hán - Nôm. Địa bạ Gia Long cho biết tình hình hành chính dinh Quảng Nam năm 1812 gồm 2 phủ, 9 huyện, 29 tổng và 15 thuộc, 1.046 làng, diện tích ruộng đất hơn 205.250 mẫu.

Bản đồ khu vực Hải Vân - yết hầu Thuận Quảng năm 1774. Nguồn Sách Bính Ngọ niên bình nam đồ (A.2499)
Bản đồ khu vực Hải Vân - yết hầu Thuận Quảng năm 1774. Nguồn: Sách Bính Ngọ niên bình nam đồ (A.2499)

Dấu chân tiền nhân

Gia phả là một trong những tư liệu quan trọng để hiểu biết về lịch sử khai hoang mở cõi, hình thành cư dân ở vùng đất mới. Gia phả tộc Phan ở Đà Sơn xác định ông thủy tổ Phan Công Thiên khai cơ trên vùng đất Đà Nẵng từ thời sự kiện Huyền Trân công chúa. Quảng Nam xã chí của Viện Viễn đông Bác cổ Pháp ghi chép gốc gác của các tộc tiền hiền làng Bất Nhị, như tộc Phạm xưa kia ở Cao Bằng di cư vào ở Cẩm Lậu (?) sau đó chuyển nhập vào làng Bất Nhị. Tộc Phạm này có một quyển phổ hệ lập vào thời vua Tự Đức, chép từ thế hệ đương thời ngược lên đến đời ông thủy tổ là Phạm Đại Lang tự Hiểu Đức Phủ quân.

Dấu chân tiền nhân còn lưu lại trong vănbia đất Quảng với nhiều nhân vật quan trọng, từ những tác giả văn bia cho đến những nhân vật được đề cập trong văn bia, thuộc nhiều thành phần xã hội, từ thiền sư, hòa thượng, cư sĩ, đệ tử Phật giáo đến kẻ sĩ, quan chức trung ương, chức sắc địa phương và người dân bình thường. Trong đó có nhiều danh nhân như Phạm Hữu Nghi, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Thuật, Phạm Văn Nghị, Nguyễn Tường Vĩnh, Đinh Tường Phủ, Nguyễn Khuê, Nguyễn Tử Tu, Trương Đồng Hiệp...

Văn bia chùa An Long. Ảnh H.A
Bia chùa An Long, được dựng vào năm 1653, là một trong những dấu tích Hán Nôm còn lưu lại trên vùng đất xứ Quảng. Ảnh: H.A

Sự kiện lịch sử

Tư liệu văn bia ghi lại nhiều sự kiện quan trọng trong tiến trình hình thành và phát triển vùng đất, từ Nam tiến, di dân, khai khẩn, lập làng, dựng bạ đến xác lập địa giới và tôn vinh các tộc tiền hiền, việc xây dựng, trùng tu đình, chùa, miếu, hội quán, cầu đường; đào giếng, đắp đê ngăn mặn, phát triển thủy lợi và bảo vệ sản xuất. Qua đó hiện lên một vùng đất từng bước mở mang, dân cư ngày càng đông đúc, kinh tế nông nghiệp và giao thương không ngừng phát triển.

Văn bia cũng phản ánh sinh hoạt làng xã qua việc lập hương ước, chỉnh đốn phong tục, khuyến học, phòng gian, tiết giảm xa hoa, phát triển công quỹ và giữ gìn vệ sinh chung. Những ghi chép ấy tuy ngắn gọn nhưng là nguồn sử liệu tại chỗ sinh động, bổ sung cho chính sử về quá trình kiến thiết quê hương của các thế hệ cư dân xứ Quảng.

Nội dung bia còn phản ánh các cuộc nội chiến, việc sung quân, hành quân, xây dựng lực lượng và cuộc kháng chiến chống liên quan Pháp, Tây Ban Nha từ năm 1858; đồng thời tưởng niệm các nghĩa sĩ vị quốc vong thân tại nghĩa trủng Hòa Vang, Phước Ninh.

Đặc biệt, văn bia về thương cảng Hội An ghi nhận sự hiện diện, cộng cư và giao thương của người Việt, Hoa, Nhật cùng các giáo sĩ phương Tây, cho thấy Quảng Nam từng là cửa ngõ giao lưu quốc tế, nơi gặp gỡ và hỗn dung văn hóa Đông - Tây. Bên cạnh đó, hệ thống Ma nhai Ngũ Hành Sơn được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới, khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa và tư liệu đặc sắc của văn khắc đất Quảng.

Tín ngưỡng THiên Y A Na ở làng Nam Thọ
Miếu thờ nữ thần Thiên Y A Na ở làng Nam Thọ. Ảnh: H.A

Sinh hoạt cộng đồng

Hai văn bản hương ước làng Phước Sơn và Thái Lai phản ánh khá toàn diện đời sống văn hóa, xã hội của làng xã xưa: từ tín ngưỡng, lễ nghi, tang ma, hôn nhân, khuyến học đến tổ chức bộ máy tự quản, giữ gìn an ninh trật tự, quản lý ruộng đất, bảo vệ mùa màng, tài nguyên và chi tiêu công. Các điều khoản rõ ràng, nghiêm minh cùng cơ chế thưởng phạt cụ thể đã góp phần giáo hóa con người, duy trì kỷ cương và cố kết cộng đồng.

Hệ thống thần linh đất Quảng hết sức phong phú, gồm nhiên thần và nhân thần, từ tiền hiền, hậu hiền, Thành hoàng, Cao Các, Bạch Mã, Quan Thánh, Đức Ngư Ông đến các nữ thần Thiên Y A Na, Tứ vị Thánh nương, Thiên hậu, Ngũ Hành tiên nương cùng nhiều nhân vật lịch sử có công với đất nước và địa phương. Trong đó, tiền hiền, hậu hiền ghi dấu công cuộc khai khẩn, mở cõi, lập làng; Thành hoàng bảo hộ xứ đất; Thiên Y A Na thể hiện rõ sự giao lưu, tiếp biến văn hóa Việt - Chăm; Đức Ngư Ông gắn với đời sống của cư dân ven biển.

Từ tín ngưỡng dân gian, nhiều vị thần được triều đình điển chế hóa, ban tặng phẩm trật, mỹ hiệu và sắc phong, ghi nhận công lao “bảo vệ nước, cứu giúp dân”. Được nhà nước chuẩn cho thờ phụng, việc thờ thần càng thêm chính thống, biểu hiện qua hệ thống đình, miếu, văn bia, bài vị, văn tế cùng các nghi thức rước sắc, tế lễ trang nghiêm.

Từng trang tư liệu Hán Nôm vùng đất Đà Nẵng cổ xưa như hiển hiện ra trước mắt. “Đất xưa” còn đó, “chữ cũ” còn đây.

(0) Bình luận
x
Nổi bật
Đất xưa chữ cũ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO