VHXQ - Muôn dáng vẻ, mỗi người khi dấn thân vào nghệ thuật, đều mang dòng tâm tình riêng. Dẫu cuộc đời qua nhiều khúc cua, con đường đi đến nghệ thuật có gập ghềnh, họ vẫn say mê với âm điệu, trình tấu. “Bao nhiêu vốn quý, tài sản, vẻ đẹp, sự thông minh, cần cù, nụ cười và nước mắt, họ đã dành cho bạn trong tác phẩm hoặc trên sân khấu”. Mời bạn cùng văn hóa xứ quảng nghe những sẻ chia sau lấp lánh ánh đèn của người nghệ sĩ..
NGHỆ SĨ PHI ĐIỂU: Thanh xuân dài gần một thế kỷ

Dưới ánh đèn sân khấu, nghệ sĩ Phi Điểu từng là giọng nói quen thuộc của làn sóng phát thanh, là người mẹ, người bà với gương mặt phúc hậu trong hàng chục bộ phim truyền hình và điện ảnh. “Điều hạnh phúc nhất đối với tôi là được đi trên con đường mình đã chọn một cách nghiêm túc, đường hoàng, từ trẻ cho tới tận hơn 90 tuổi” - nghệ sĩ Phi Điểu nói. Dù đã bước sang tuổi 94, bà vẫn tỏa ra một năng lượng trong lành, nhẹ nhàng, nhưng đầy sức sống.
Người đi qua gần một thế kỷ cuộc đời, đã chứng kiến bao biến động, bao thăng trầm, thì điều gì giữ cho họ niềm tin, sự lạc quan và ánh sáng trong tâm hồn như vậy? Câu trả lời nằm trong chính cuộc đời của bà. Đó là một hành trình dài đầy cống hiến, từ khi còn là chiến sĩ hoạt động trong chiến khu đến khi trở thành người nghệ sĩ được bao nhiêu người yêu mến.
Sinh năm 1932 tại Campuchia, Phi Điểu (tên thật là Nguyễn Thị Phi Phi) đã sớm tham gia cách mạng, thậm chí từng bị bắt và giam giữ trong khoảng hai năm trước khi theo đoàn quân Nam Bộ tập kết ra Bắc năm 1954, rồi gia nhập Tổng cục Chính trị, phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ.
Sau khi ra quân, bà tham gia đoàn cải lương Nam Bộ, tiếp tục con đường nghệ thuật trong môi trường quân đội.
Khi có gia đình và sinh con, bà đối mặt với một quyết định khó khăn vì ở Điện Biên Phủ không có trường học cho con, nên bà quyết định đến Hà Nội tìm việc. Biết Đài Tiếng nói Việt Nam đang cần phát thanh viên giọng Nam Bộ, bà mạnh dạn ứng tuyển và được nhận. Từ đó, bà trở thành một trong những giọng đọc quen thuộc của làn sóng phát thanh, gắn bó với công việc này suốt nhiều thập kỷ.
Sau năm 1975, đất nước thống nhất, bà chuyển công tác về Đài Tiếng nói Nhân dân TP. Hồ Chí Minh và làm việc đến tận năm 1992 mới nghỉ hưu.
Sau khi nghỉ hưu, bà lại bén duyên với điện ảnh. Bộ phim đầu tiên nghệ sĩ Phi Điểu tham gia là “Blouse trắng” vào năm 2000, vai bà Hai. Từ đó, bà trở thành gương mặt quen thuộc trên màn ảnh nhỏ, thường vào vai người bà, người mẹ tần tảo, chịu nhiều bất hạnh nhưng đầy lòng yêu thương.
Khi người ta nói đến “ánh hào quang” của nghệ sĩ, thường nghĩ đến sân khấu, ánh đèn, tiếng vỗ tay. Nhưng với nghệ sĩ Phi Điểu, ánh hào quang không nằm ở đó, mà nằm trong từng ngày được làm việc, từng vai diễn nhỏ, từng lần thu âm, từng lần gặp gỡ khán giả. Và sau ánh hào quang ấy, là một người phụ nữ hạnh phúc vì được sống đúng với mình, được cống hiến, được yêu thương.
Tôi cảm nhận, bà không chỉ lạc quan vì bản tính, mà vì bà đã chọn nhìn đời bằng đôi mắt bao dung, chọn giữ lại ánh sáng thay vì bóng tối, chọn bước tiếp thay vì dừng lại. Có lẽ chính vì vậy mà dù tuổi đã cao, bà vẫn giữ được một tinh thần trẻ trung đến lạ. Một thứ “thanh xuân” không nằm ở làn da hay dáng vóc, mà nằm ở cách bà đối diện với cuộc đời. (LÊ NGỌC)
NGHỆ NHÂN BÀI CHÒI DƯƠNG QUÝ: Điều tôi muốn làm nhất trong cuộc đời vẫn là bài chòi

Tôi được các cô chú trong làng dạy hô hát bài chòi từ lúc 5 tuổi. Quê tôi ở làng An Long, xã Quế Phong, thuộc huyện Quế Sơn của tỉnh Quảng Nam cũ, là xứ sở của bài chòi. Từ nhỏ, tôi đã lon ton theo mẹ đi nghe hát bài chòi ở các dịp hội hè. Lớn lên một chút thì được các cô chú cho lên sân khấu hát.
Lớp 8 tôi trúng tuyển vô Trường Văn hóa - nghệ thuật Đà Nẵng học dân ca bài chòi nhưng việc học cũng không kéo dài được lâu. Tôi phải nghỉ học sớm để mưu sinh, làm đủ mọi nghề kiếm sống, gia nhập quân đội 2 năm, trước khi về Hội An sống, chính thức quay lại với bài chòi từ cuối năm 2003, do một cơ duyên. Dùng từ “quay lại” cũng không hẳn chính xác, bởi dù ở đâu, làm gì, tôi chưa bao giờ ngưng hát bài chòi. Tính đến nay, tôi theo nghiệp bài chòi được 22 năm.
Với bài chòi, tôi như cá gặp nước, được thỏa chí với niềm đam mê của mình, được sống với nó. Có thể nói, bài chòi đã ngấm vào máu của tôi rồi, và nếu có một công việc nào đó tôi muốn làm nhất trong cuộc đời này thì đó là bài chòi.

Ngày làm việc của tôi thường bao gồm ít nhất là 3 suất diễn ở nhà hát cổ truyền Hội An và một suất diễn hằng đêm ở trung tâm phố cổ. Thời gian còn lại, tôi đi diễn ở các chương trình, sự kiện khi được mời, và tham gia giảng dạy các lớp dân ca bài chòi dành cho các bạn trẻ yêu thích bài chòi và học sinh ở các trường phổ thông.
Tôi nghĩ người phương Tây có opera, có nhạc pop, nhạc rock, hip-hop, thì người Việt mình có các loại hình âm nhạc dân gian, như bài chòi. Cũng như người ta dùng nĩa, dùng dao khi ăn thì người Việt dùng đũa. Âm nhạc dân gian, bài chòi cũng như đôi đũa đối với người Việt mình. Mình có thể dùng thêm nĩa, thêm dao trong bữa ăn, nhưng người Việt mình không bỏ đôi đũa được.
Tôi thích nhất là công việc giảng dạy bài chòi cho học sinh. Các em như tờ giấy trắng, ở đó, tôi là người bạn của các em. Tôi tâm sự, kể chuyện, chia sẻ với các em về đời sống văn hóa của ông bà mình ngày xưa, trước khi pop, rock, hip hop du nhập, người Việt mình đã có các loại hình văn nghệ dân gian, như bài chòi. Các em có thể thích pop, rock, hip-hop, các em cũng có thể thích bài chòi. Tôi nhận ra, các em chưa thích bài chòi chỉ vì các em chưa được tiếp cận bài chòi một cách thấu đáo, và từ các lớp học của tôi, bài chòi đang dần dần lan tỏa. Phụ huynh cũng bắt đầu quan tâm đến bài chòi, theo con mình. Từng chút, từng chút một. Tôi tin là bài chòi rồi sẽ được yêu thích rộng rãi, sẽ vang xa.
Bài chòi có nuôi sống được tôi không hả? Tôi nghĩ, cuộc đời mình, biết đủ thì sẽ đủ. Quan trọng là tôi được làm công việc mình đam mê, được lan tỏa niềm đam mê ấy cho các bạn trẻ. Chỉ rứa là tôi thấy vui rồi, thấy cuộc đời mình có ý nghĩa rồi. Nếu được các cấp chính quyền quan tâm hơn đến chế độ đãi ngộ dành cho các nghệ sĩ văn nghệ dân gian để chúng tôi sống tươm tất hơn thì quả thật, không gì vui bằng. (ĐINH LÊ VŨ ghi)

TRẦN THI THU LY: Hội An đã níu chân người bằng những câu hát mộc mạc, chân tình
Quê tôi ở làng Cẩm Thanh. Từ lúc bé thơ, tôi đã nghe bài chòi, bởi ba tôi, chú tôi, ông nội tôi là người chuyên hát dân ca bài chòi trong làng, ông cố tôi là nghệ nhân đàn cò. Ông cố chính là người dạy cho tôi những nhịp, phách, những câu hát đầu tiên.
Ngay từ hồi học phổ thông, tôi đã tham gia nhiều hội diễn văn nghệ thiếu nhi. Năm 18 tuổi, tốt nghiệp phổ thông trung học, tôi vô Tam Kỳ học khoa tiếng Anh ở Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Nam, nhưng vẫn luôn có mặt ở những dịp hội hè, liên hoan để… hát.
Sau tốt nghiệp, tôi được nhận vô làm việc ở Trung tâm Văn hóa Hội An. Và để trở thành người trình diễn bài chòi chuyên nghiệp như hiện nay, tôi đã phải học tập, rèn luyện nhiều. Tôi nhận ra niềm đam mê đích thực của mình là ca hát, biểu diễn những loại hình văn nghệ truyền thống.
Tôi yêu ánh đèn sân khấu, yêu khán giả của mình, từ những người lao động bình dân, các em học sinh, các cụ già, khách du lịch bốn phương, các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian. Tôi luôn hạnh phúc khi được hát.
Ngoài công việc biểu diễn ở Nhà biểu diễn nghệ thuật cổ truyền Hội An và ở trung tâm phố cổ hằng đêm, tôi còn tham gia giảng dạy ở các trường học, ở những lớp học ngắn hạn dành cho người nước ngoài yêu thích văn hóa truyền thống Việt Nam, cả những buổi trải nghiệm cho các học sinh, sinh viên nước ngoài là con em của những chuyên gia, hoặc đang tham các kỳ nghỉ hè, các chuyến đi thực tế.
Tôi biết mình không thể làm cho người ta yêu thích ngay Hội An, yêu thích ngay bài chòi chỉ qua một vài buổi học, nhưng những hạt mầm bé nhỏ về lòng hiếu khách, vì tính độc đáo của văn hóa truyền thống Việt biết đâu sau này sẽ đâm chồi. Tôi quen biết với nhiều bạn bè là người nước ngoài, đủ mọi tầng lớp, chuyên gia, người già, em bé đều có. Qua cách họ liên hệ với tôi, tôi biết bằng một cách nào đó, Hội An đã níu chân họ, bằng những câu hát mộc mạc mà chân tình của dân ca, của bài chòi.
Thỉnh thoảng, tôi có những chuyến đi diễn trong và ngoài nước. Những chuyến đi xa càng làm cho tôi nhận ra bài chòi, và những loại hình văn nghệ dân gian là phương tiện để kết nối người Quảng xa quê xích lại gần nhau hơn và gần hơn với nơi chôn nhau cắt rốn. Người nước ngoài bắt đầu tò mò tìm hiểu, dần dần có thiện cảm hơn với nước mình nhờ bài chòi, nhờ văn nghệ truyền thống.
Tôi càng yêu thêm công việc của mình. Nếu có ai hỏi tôi là nếu không hát bài chòi, tôi sẽ làm nghề gì thì tôi chịu. Quả thật, tôi không hình dung được mình sẽ làm gì nếu không hát dân ca, hát bài chòi. Là phụ nữ, làm nghề biểu diễn cũng như làm dâu trăm họ, những lúc con đau, con ốm, gia đình có việc, cũng có lúc tôi tưởng chừng quỵ ngã, muốn bỏ nghề.
Những lúc như vậy, tôi thường tự hỏi mình là nếu bỏ hát bài chòi, tôi sống được không? Sống được thôi, nhưng chắc chắn là một đời sống héo hon khi xa sân khấu, xa những khán giả nghe mình hát hằng ngày... (ĐINH LÊ VŨ ghi)