ĐNO - Phía sau mỗi chiếc mã QR trên bao bì sản phẩm OCOP là cả một hành trình chuẩn hóa dữ liệu từ cơ sở sản xuất đến tay người tiêu dùng. Dù đối mặt với bài toán chi phí và thói quen mua sắm tại điểm bán, các doanh nghiệp trên địa bàn Đà Nẵng cùng chính quyền thành phố đang nỗ lực kết nối thông tin để xây dựng niềm tin thị trường bền vững.

ĐNO - Sau mỗi chiếc mã QR trên bao bì sản phẩm OCOP là cả một hành trình chuẩn hóa dữ liệu từ cơ sở sản xuất đến tay người tiêu dùng. Dù đối mặt với bài toán chi phí và thói quen mua sắm tại điểm bán, các doanh nghiệp trên địa bàn Đà Nẵng cùng chính quyền thành phố đang nỗ lực kết nối thông tin để xây dựng niềm tin thị trường bền vững.

Để một mã QR chứa được thông tin hữu ích, chủ thể phải làm khá nhiều việc phía sau bao bì. Hồ sơ nguyên liệu, kiểm nghiệm, mã lô, quy trình sản xuất và cách lưu dữ liệu cần được sắp xếp bài bản, trong khi điều kiện đầu tư của mỗi cơ sở lại khác nhau.

Chuẩn hóa từ gốc
Bà Trần Thị Minh Thúy, Giám đốc Công ty CP Dược liệu Quảng Nam (xã Tam Xuân) cho biết, khi tham gia Chương trình OCOP với sản phẩm sữa chua sấy thăng hoa, doanh nghiệp phải hoàn thiện lại nhiều phần việc, từ hợp đồng nguyên liệu, kiểm nghiệm, công bố sản phẩm đến nội dung trên bao bì. Quá trình này buộc cơ sở phải rà soát kỹ hơn quy trình sản xuất và lưu trữ hồ sơ.
"Trước đây, tôi không nghĩ một sản phẩm OCOP lại phải hoàn thiện nhiều nội dung như vậy. Khi làm đủ các bước, bản thân doanh nghiệp cũng phải tổ chức lại quy trình bài bản hơn", bà Thúy nói.

Trên sản phẩm sữa chua sấy khô hòa tan hiện có cả mã vạch và mã QR. Mã vạch phục vụ khâu nhập hàng, quản lý tại điểm bán, còn mã QR dẫn người mua đến quy trình sản xuất, hồ sơ kiểm nghiệm và các giấy tờ liên quan. Do sản phẩm hướng đến đối tượng trẻ em nên phụ huynh thường tìm hiểu rất kỹ nguồn gốc, chất lượng.
Doanh nghiệp từng liên kết mã QR trực tiếp với website, nhưng có thời điểm đường dẫn gặp trục trặc do khâu quản trị chưa tốt. Sau đó, công ty chuyển sang một đường dẫn riêng, cố định cho sản phẩm để dễ dàng cập nhật thông tin khi hồ sơ hoặc bao bì thay đổi. Trải nghiệm này giúp cơ sở nhận ra một chiếc mã QR chỉ thực sự có giá trị khi dữ liệu phía sau được duy trì ổn định và nhà sản xuất chịu trách nhiệm với nội dung đã công bố.

Một giải pháp khác được Công ty Cổ phần Peco Food (phường Hòa Xuân) áp dụng đối với thịt heo tươi. Ông Nguyễn Văn Tài, Phó Giám đốc công ty cho biết, doanh nghiệp phối hợp với cơ quan quản lý an toàn thực phẩm thành phố để triển khai tem truy xuất trên từng khay thịt sau khi giết mổ và đóng gói.
Qua ứng dụng Đà Nẵng City Food, người tiêu dùng có thể dễ dàng kiểm tra loại thịt, cơ sở giết mổ, đơn vị sản xuất và điểm phân phối.
Từ kinh nghiệm với thịt tươi, Peco Food dự kiến mở rộng mã QR sang các sản phẩm được công nhận OCOP như xúc xích, giò xông khói... nhằm bổ sung thông tin về nguyên liệu và quy trình sản xuất.
Các dòng sản phẩm này đang được đưa vào trường học, siêu thị, nhà hàng và khách sạn. Theo ông Tài, hồ sơ đầy đủ giúp đối tác thuận lợi hơn khi kiểm tra, còn mã QR tạo thêm một kênh tiếp cận thông tin minh bạch cho khách hàng.

"Dữ liệu truy xuất phải gắn liền với yêu cầu của kênh phân phối. Khách sạn, trường học hay siêu thị thường kiểm tra rất kỹ hồ sơ trước khi đưa sản phẩm vào hệ thống.
Việc chuẩn hóa thông tin ngay từ khâu sản xuất giúp doanh nghiệp giảm thời gian giải trình, đồng thời tạo nền tảng vững chắc để mở rộng các dòng hàng chế biến", ông Tài nói.
Bài toán về chi phí
Ở các chủ thể có quy mô nhỏ, bài toán khó khăn nhất lại nằm ở chi phí. Ông Dương Ngọc Ảnh, Nhà sáng lập (Founder) Công ty CP Caromi (xã Quế Sơn) - đơn vị chuyên sản xuất các sản phẩm từ củ sắn - cho biết, doanh nghiệp hiện chủ yếu sử dụng mã QR như một đường dẫn đưa khách hàng đến website, nơi cung cấp thêm thông tin về sản phẩm, nguyên liệu và quy trình sản xuất.

Với những mặt hàng thực phẩm có giá bán thấp, theo ông Ảnh, việc theo dõi sâu từng lô nguyên liệu rồi đưa dữ liệu lên một hệ thống riêng sẽ làm phát sinh nhiều chi phí công nghệ, nhân lực nhập liệu và công sức duy trì.
Doanh nghiệp vẫn ghi rõ xuất xứ, thông tin nguyên liệu trên bao bì, thực hiện công bố với cơ quan chức năng và chịu trách nhiệm về nội dung đã đăng ký. Một hệ thống truy xuất nguồn gốc sâu hơn cần phải được tính toán kỹ lưỡng dựa trên giá thành sản phẩm và khả năng vận hành lâu dài của cơ sở.

“Với sản phẩm có giá trị thấp, nếu đưa toàn bộ dữ liệu truy xuất riêng cho từng sản phẩm hoặc từng lô lên hệ thống thì chi phí sẽ rất lớn. Chúng tôi hiện dùng mã QR để khách hàng truy cập website xem thêm thông tin, còn nguồn gốc, nguyên liệu vẫn được thể hiện và công bố đầy đủ theo quy định”, ông Ảnh nói.
Thực tế tại các doanh nghiệp cho thấy, cùng một mã QR nhưng lượng thông tin phía sau rất khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm hàng hóa, quy mô, giá bán và năng lực quản trị. Phần cốt lõi vẫn là hồ sơ sản xuất được ghi chép, cập nhật liên tục từ hợp đồng thu mua, phiếu kiểm nghiệm đến mã lô. Khi dữ liệu được duy trì đều đặn, doanh nghiệp sẽ có căn cứ để khách hàng đối chiếu và dễ dàng truy vết sản phẩm khi phát sinh sự cố.

Ông Ảnh cho rằng, các doanh nghiệp nhỏ cần một giải pháp đủ đơn giản để áp dụng hằng ngày, chi phí hợp lý và vẫn đáp ứng được yêu cầu quản lý.
Việc chuẩn hóa vì thế nên bắt đầu từ những khâu gần gũi nhất với hoạt động sản xuất, được thực hiện đều đặn và lưu trữ đủ lâu để mỗi thông tin trên mã QR đều có căn cứ xác thực.
[VIDEO] - Các chủ thể OCOP chia sẻ về việc đính kèm mã QR vào bao bì sản phẩm:


Sản phẩm OCOP ngày càng dễ nhận diện trên kệ hàng nhờ tem sao, mã vạch và mã QR. Tuy vậy, hành vi của người mua rất khác nhau. Có người muốn tìm hiểu chi tiết đến từng lô sản xuất, có người chỉ dành vài giây để quét nhanh, trong khi nhiều khách hàng vẫn lựa chọn dựa vào thương hiệu, bao bì và uy tín của điểm bán.
.png)
Nhu cầu đa dạng
Chị Ung Như Thảo An, Trưởng bộ phận Marketing Công ty TNHH Triết Minh - Trimico (xã Chiên Đàn) nhận thấy mức độ sử dụng mã QR phụ thuộc khá rõ vào giá trị sản phẩm. Các sản phẩm OCOP 3 sao về dược liệu của Trimico đều có tem chống hàng giả và mã QR để khách hàng xem hồ sơ công bố, chứng nhận chất lượng, chứng nhận OCOP và phiếu kiểm nghiệm.
Theo chị An, những mặt hàng giá trị cao như sâm củ, rượu sâm hoặc quà biếu thường được khách hàng kiểm tra rất kỹ. Với trà, thạch và nhóm sản phẩm tiêu dùng thường xuyên, nhiều người chỉ cần nhìn thấy tem, mã và chứng nhận trên bao bì là phần nào yên tâm nên ít khi truy cập sâu vào dữ liệu.

Từ thực tế bán hàng, chị An cho rằng người mua không quét mã theo một thói quen cố định. Mức độ quan tâm thay đổi tùy theo giá trị món hàng, mục đích mua sắm và niềm tin đối với thương hiệu. Điều này buộc doanh nghiệp phải lựa chọn những thông tin thực sự hữu ích, thay vì đưa quá nhiều nội dung dàn trải lên một trang giới thiệu.
"Khách mua sản phẩm giá trị lớn thường quét kỹ hơn vì họ cần biết mình đang mua gì. Với sản phẩm dùng thường xuyên, nhiều người chỉ cần nhìn thấy tem và mã. Muốn khách hàng chủ động quét thì thông tin phía sau phải cho họ thêm điều đáng để kiểm tra", chị An nói.

Chị Nguyễn Thị Thanh Hà (42 tuổi, phường An Hải) thường quét mã khi gặp sản phẩm mới hoặc có giá trị cao, nhưng nhiều lần chỉ nhận lại trang giới thiệu chung chung. Điều chị thực sự muốn tìm kiếm là thời điểm sản xuất, nguồn nguyên liệu, kết quả kiểm nghiệm và dữ liệu gắn với đúng lô hàng đó.
"Nếu quét lên chỉ thấy thông tin chung thì chưa đủ. Tôi muốn biết lô hàng mình đang cầm được sản xuất khi nào, nguyên liệu từ đâu và chất lượng được kiểm tra ra sao. Dữ liệu càng sát với sản phẩm thì tôi càng có căn cứ để yên tâm", chị Hà nói.
.jpg)
Trong khi đó, anh Trần Minh Quân (29 tuổi, xã Nam Phước) lại quan tâm nhiều đến sự thuận tiện. Có mã mở được ngay trên điện thoại, nhưng cũng có mã yêu cầu cài đặt ứng dụng hoặc dẫn đến đường link khó truy cập. Với nhịp mua sắm nhanh, việc phải thực hiện thêm vài thao tác phức tạp có thể khiến khách hàng bỏ qua.
"Mã QR phải giúp người mua tìm được thông tin ngay lúc cần thiết. Nếu quét nhanh, dễ đọc thì tôi sẽ dùng. Còn nếu phải tải ứng dụng riêng hoặc chờ đợi một trang web lỗi tải lên thì ít người đủ kiên nhẫn", anh Quân nói.
Thói quen ở điểm bán
Ông Lê Văn Liêm, Giám đốc Siêu thị Công ty CP Caromi Tam Kỳ cho biết, hệ thống Saigon Co.op luôn dành khu vực riêng để trưng bày sản phẩm OCOP, tổ chức giới thiệu và cho khách hàng dùng thử.
Một số sản phẩm của các địa phương trước đây đã có chỗ đứng, nhưng sức mua vẫn tập trung chủ yếu ở nhóm đặc sản, quà biếu. Số sản phẩm trở thành lựa chọn thường xuyên trong giỏ hàng hằng ngày của người dân chưa nhiều.
.jpg)
Quan sát tại quầy, ông Liêm nhận thấy khách hàng chưa có thói quen quét mã thường xuyên. Họ thường nhìn thương hiệu, bao bì, hỏi nhân viên tư vấn hoặc dựa vào uy tín của siêu thị. Mã QR dù đã quen mắt hơn trước, song việc dừng lại để quét thông tin vẫn chưa trở thành một hành vi tự nhiên trong quá trình mua sắm.
"Muốn khách hàng quan tâm đến mã QR thì chủ thể phải cung cấp được thông tin có giá trị. Người mua cần biết nguyên liệu ở đâu, sản phẩm được làm như thế nào. Khi thông tin đủ rõ thì mới tạo thêm niềm tin để họ lựa chọn", ông Liêm nói.

Chị Ngô Thị Bích Vân (35 tuổi, phường Cẩm Lệ) là một trường hợp tiêu dùng khá phổ biến. Khi đi siêu thị hoặc cửa hàng đặc sản, chị thường chọn nhanh dựa vào thương hiệu, mẫu mã, hạn sử dụng và độ tin cậy của nơi bán. Điện thoại hiếm khi được lấy ra để quét kiểm tra từng chai nước mắm, gói trà hay hộp thực phẩm.
"Tôi gần như không quét mã. Sản phẩm có thương hiệu quen, bao bì đầy đủ, còn hạn sử dụng và được bán trong siêu thị thì tôi đã có một mức độ tin tưởng nhất định. Với người mua bình thường, QR hiện chưa phải yếu tố quyết định", chị Vân chia sẻ.
.jpg)
Tại điểm bán, mã QR phải cạnh tranh với nhiều yếu tố khác như giá cả, bao bì, vị trí trưng bày và thương hiệu. Nếu mã chỉ mở ra nội dung dài dòng hoặc lặp lại thông tin trên nhãn, người mua sẽ không có lý do để quét vào lần sau.
Ngược lại, một thông tin ngắn gọn, súc tích về nguồn nguyên liệu, lô sản xuất hay kiểm nghiệm lại có thể thuyết phục trong vài chục giây lựa chọn.
Khoảng cách giữa việc sản phẩm có mã QR và việc người tiêu dùng thực sự sử dụng mã QR vẫn còn khá lớn. Thói quen này chỉ có thể hình thành khi mỗi lần quét mang lại giá trị cụ thể, thông tin vừa đủ, đúng lúc và đáng tin cậy.
[VIDEO] - Các doanh nghiệp và nhà phân phối chia sẻ về thống kê người tiêu dùng quan tâm đến thông tin sản phẩm sau mã QR:

Đằng sau một mã QR có thể chỉ là vài dòng giới thiệu sơ sài, nhưng cũng có thể là lịch sử của cả một lô hàng. Khoảng cách ấy phụ thuộc vào cách doanh nghiệp ghi chép, lưu trữ và kết nối dữ liệu. Khi chương trình OCOP bước sang giai đoạn nâng cao chất lượng, yêu cầu truy xuất nguồn gốc đang đi sâu hơn vào nguyên liệu, quy trình và từng lô sản xuất.

Theo dấu từng lô
Ông Nguyễn Thiện Khiêm, Đồng sáng lập kiêm Phó Giám đốc Công ty TNHH Công nghệ Sinh học Vinseed (phường Hòa Xuân) cho biết, doanh nghiệp hiện có ba sản phẩm OCOP 4 sao và đang hoàn thiện thêm một sản phẩm tham gia đánh giá.
Từ quá trình sản xuất, ông Khiêm phân biệt rõ mã QR dùng để mở rộng thông tin với dữ liệu truy xuất nguồn gốc. Nhiều mã hiện nay chỉ dẫn người mua về website hoặc một trang giới thiệu - nơi chứa câu chuyện sản phẩm, hướng dẫn sử dụng và những nội dung mà bao bì không thể thể hiện hết. Trong khi đó, phần dữ liệu có thể lần ngược một lô hàng lại nằm trong hệ thống quản lý chất lượng nội bộ.

"Muốn truy xuất nguồn gốc thì phải biết sản phẩm làm từ nguyên liệu nào, thuộc lô nào, quy trình sản xuất ra sao và khi có sự cố có thể lần ngược lại được hay không.
Nếu lô hàng nào quét lên cũng chỉ thấy cùng một nội dung chung chung thì dữ liệu đó chưa phản ánh được lịch sử riêng của từng sản phẩm", ông Khiêm phân tích.
Tại Vinseed, mỗi lô sản xuất đều có mã riêng đi kèm hồ sơ nguyên liệu đầu vào, thông tin nhà cung cấp, kết quả đánh giá, thời điểm sản xuất và biên bản kiểm tra của bộ phận nghiên cứu, kiểm soát chất lượng. Doanh nghiệp đồng thời tiến hành lưu mẫu. Khi nhận được phản hồi từ thị trường, mã lô trên bao bì sẽ giúp tìm đúng mẫu lưu tương ứng, từ đó lần ngược về nguồn gốc nguyên liệu và hồ sơ liên quan.
"Khách hàng chỉ cần cung cấp mã lô, chúng tôi có thể kiểm tra mẫu lưu và truy lại xem nguyên liệu của lô đó được nhập từ đâu, đánh giá đầu vào thế nào. Phần dữ liệu này hiện nằm trong hồ sơ quản lý theo tiêu chuẩn ISO, chưa được đưa toàn bộ lên mã QR công khai", ông Khiêm cho biết thêm.

Nhiều doanh nghiệp đã xây dựng được dữ liệu truy xuất nhưng thông tin còn nằm rải rác trong hồ sơ ISO, sổ tay nguyên liệu, mã lô, phiếu kiểm nghiệm và mẫu lưu. Để những thông tin này tiếp cận được người mua, cần có thêm một nền tảng kết nối đồng bộ và phương thức cập nhật phù hợp.
Theo ông Khiêm, mức độ truy xuất cũng cần được thiết kế linh hoạt theo tính chất của từng sản phẩm. Một củ sâm Ngọc Linh giá trị cao đòi hỏi quy trình kiểm tra khắt khe hơn nhiều so với thực phẩm tiêu dùng hằng ngày, vì vậy hệ thống cần đủ linh hoạt để tập trung vào những mắt xích cốt lõi.
Nối dữ liệu thành chuỗi
Nghị quyết 23 năm 2025 của HĐND thành phố quy định hỗ trợ toàn bộ chi phí thiết lập mã QR và mã vạch trong giới hạn 10 triệu đồng mỗi sản phẩm, tối đa 30 triệu đồng mỗi chủ thể. Chính sách cũng dành nguồn lực để hỗ trợ trang thông tin điện tử, thương mại điện tử, quản lý dữ liệu, số hóa hồ sơ và xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc theo chuỗi giá trị.
Nghị quyết phân định rõ phần hỗ trợ thiết lập mã QR, mã vạch với phần số hóa sản phẩm và xây dựng hệ thống truy xuất theo chuỗi giá trị. Sự phân định này mở ra hướng đầu tư sâu hơn cho dữ liệu, bởi một chiếc mã QR có thể tạo ra rất nhanh, nhưng lịch sử sản phẩm thì phải được tích lũy liên tục trong suốt quá trình sản xuất.

Truy xuất nguồn gốc còn được đặt trong mối liên kết chặt chẽ với các hệ thống quản lý chất lượng như ISO, HACCP, GMP, liên kết chuỗi giá trị, nhãn hiệu và bao bì.
Hằng năm, ngân sách thành phố bố trí tối thiểu 25 tỷ đồng để thực hiện các nội dung hỗ trợ OCOP, tạo điều kiện cho các chủ thể từng bước đầu tư vào công tác quản trị.
Một hệ thống vận hành lâu dài phải bắt đầu từ những dữ liệu phát sinh thực tế trong sản xuất, từ vùng nguyên liệu, lô hàng cho đến kết quả kiểm nghiệm. Khi mỗi doanh nghiệp lưu trữ theo một cách riêng, việc kết nối dữ liệu sẽ gặp nhiều khó khăn, vì vậy nhu cầu về một chuẩn chung thống nhất ngày càng trở nên cấp thiết.

Trong văn bản triển khai Nghị quyết 23, Phó Chủ tịch UBND thành phố Trần Nam Hưng giao Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với các cơ quan liên quan thúc đẩy áp dụng hệ thống quản lý, truy xuất nguồn gốc nhằm giúp sản phẩm đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của thị trường trong nước và quốc tế, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng các công cụ quản lý tiên tiến để nâng cao sức cạnh tranh.
Sở Công Thương được giao đẩy mạnh chuyển đổi số trong bán hàng, phát triển OCOP qua mạng và nhân rộng các mô hình xúc tiến trên nền tảng số.

Từ định hướng này, công tác truy xuất nguồn gốc trong giai đoạn tới sẽ đi sâu vào chất lượng dữ liệu và khả năng kết nối. Phía sau mỗi mã QR cần có thông tin được cập nhật đều đặn để doanh nghiệp dễ quản lý, cơ quan chức năng dễ đối chiếu và người mua thuận lợi kiểm tra khi cần.
Khi vùng nguyên liệu, mã lô, kiểm nghiệm và lịch sử sản xuất được kết nối thành một dòng dữ liệu thông suốt, người tiêu dùng sẽ có thêm căn cứ để lựa chọn, còn doanh nghiệp có thêm công cụ để bảo vệ uy tín thương hiệu. Niềm tin đối với sản phẩm OCOP vì thế sẽ được bồi đắp.
[VIDEO] - Các doanh nghiệp chia sẻ về định hướng cải thiện thông tin sau mã QR để hướng tới phục vụ người tiêu dùng được tốt hơn:
Nội dung: PHAN VINH - Đồ họa: TUYẾT TRINH